Thơ

Trang thơ Nguyễn Minh Châu
Thơ - Tuấn TT
Chùm thơ Đông Hương
Thơ - Huy Văn


Thơ Văn 2020
Thơ Văn 2019
Thơ Văn 2018
Thơ 2017 - 2022
Thơ Văn 2023


Tháng Tư… Trang sử…
Thằng lính già thương cảm
Thằng lính già cô độc
Thằng lính già ngủ mơ
Thằng lính già hoài niệm
Thằng lính già nhớ bạn
Phục Sinh nhiệm màu
Thương tích
Nửa đêm tỉnh giấc
Vá cờ
Xuân...và Quê tôi
Đă 50 năm
Ai nợ ai…?
Nỗi ḷng viễn xứ
Quà tặng
Quê hưong ngàn trùng
Đừng gọi tôi là ân nhân
Mùa Thu đất khách
Quê hương tôi đánh mất
Từ biệt đồng đội
Dậy đi em
Ngày chia tay
Hương xưa của tôi
Nặng trĩu niềm dau
Nổi sầu muôn thuở
Thương em…
Đếm Sao…
Hè về không Phượng đỏ
Về thăm chốn xưa
Ḍng Đời …
Ước mơ Phá Tam Giang
Ánh trăng xưa
Anh hùng tử, khí hùng bất tử
Một bài thơ không tên
45 năm đợi chờ & mơ ước
Sài G̣n yêu
Ngày đại thọ
Ḷng sơn gửi tạm giữa đất trời
Mông lung
Ḥn khô
Đêm ngủ tôi mơ
Cali mùa hạnh ngộ
Nhớ măi
Vẫn t́m em
Tháng tư hành
Gánh phù vân
Quốc hận
Nhắn lời
I am a soldier born to die
Tháng 2! Xuân vẫn ngát hương đời
Nhớ xuân xưa
Xin em
Cũng đành thôi
Đêm xuân nhớ mẹ
Mừng sinh nhật
Phút cuối
Đoản khúc Đà Lạt
Chờ
Hương ḷng
Nỗi ḷng biết ngỏ cùng ai ?
Cho anh nói lời xin lỗi với thằng em
Hồn thức giấc
Khóc cho người nằm xuống
Vọng cố hương… nỗi nhớ
Nỗi niềm riêng
Hương xưa của tôi
Mùa Trạng Nguyên

 

 

 

 

 

 


Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa.

Captovan

Loay hoay măi bên vệ đường để tháo nước trong người tôi ra mà sao tôi không tài nào đi… được khiến cây AK với lưỡi lê đầu súng thúc vào lưng tôi rồi ra lệnh: “Đái khẩn trương lên” làm tôi giật ḿnh tỉnh đậy lúc 3 giờ sáng. Mộng và thực trong ngục tù cứ quyện vào nhau theo tôi măi tới cuối đời, mỗi khi cảm thấy buồn đi… th́ lại gặp bộ đội với công an, chán thật! Nhưng đôi khi h́nh ảnh những con cháu “ba-ác” này cũng giúp cho nhiều người tỉnh mộng trong đó có tôi, nếu như không có lưỡi lê AK.47 thúc vào lưng mà tôi cứ thoải mái hưởng thú vui “thứ nhất quận công thứ nh́ đái đồng” th́ sẽ gặp nhiều phiền toái cho chiếu chăn.

Nửa đêm giờ Tư canh ba, giật ḿnh thức dậy rồi th́ làm gỉ? Th́ đi t́m nước uống nên tôi thấy bàn ăn tối qua đón Giao Thừa c̣n thừa mứa thịt xôi, đĩa bánh chưng xanh cắt bằng dây lạt thành từng miếng vuông vức c̣n y nguyên, chưa ai đụng tới, tuy bụng đói cồn cào nhưng tôi không muốn ăn v́ tối qua uống hơi nhiều nên khô cổ họng, một ly nước lạnh làm tôi tỉnh ngủ. Nh́n bàn tiệc dở dang, nh́n mấy người bạn tù năm xưa, từ tiểu bang xa về chơi, đang say sưa mộng đẹp làm tôi nhớ đến đêm ấy, cũng vào lúc 3 giờ sáng đêm Trừ Tịch ở trại 8 Hoàng Liên Sơn miền Thượng Du Bắc Việt…

Nhà tù làm bằng tre nứa được dựng trên sườn đồi gần hồ Thác Bà nên tứ bề lộng gió, đêm Đông mưa phùn gió bấc, tù co quắp kiểu nào cũng lạnh buốt thấu xương, ngủ không được th́ ngồi dậy bó gối cho ấm ngực, ấm ngực th́ lại lạnh cái lưng, ước chi có một bi thuốc lào rít khói vào cho tù qua cơn đói. Ánh lửa bập bùng từ dưới bếp tù hắt lên, tiếng sạt-sạt của xẻng do mấy “anh nuôi” cạo cháy làm tôi mơ tưởng đến những tảng cháy vàng trong chảo gang khiến những cái “bụng đói cật rét” càng bị hành hạ thêm! Nghĩ đến cái bánh chưng trại phát tôi đă ăn hôm trước mà tiếc hùi hụi, giá chưa ăn, ôm nó vào ḷng mà ngủ th́ chắc ấm và sẽ được no con mắt ba ngày Tết.

Lư do tôi tiếc cái bánh chưng vừa bằng bàn tay mà trại phát cho tù ăn Tết chẳng phải chuột gặm hay ai lấy mất, tôi đă ngấu nghiến mấy miếng là hết ngay sau khi vừa được cầm trong tay. Lâu ngày không gặp nhau, nhớ thương khôn tả, gặp nhau là tôi cởi dây, lột áo làm liền, thỏa măn trong phút chốc, tuy chẳng là bao, để rồi nhớ thương tiếc măi, nó đă đến và đi mất tiêu rồi, phải chờ một năm sau nữa may ra mới gặp lại nó-cái bành chưng, nhưng “nhất nhật tại tù thiên Thu tại ngoại” liệu c̣n ngày mai hay không. Quái ác là người đồng tù cũng là đồng môn thời trung học L.Pétrus Kư nằm bên cạnh th́ vẫn chưa chịu ăn, vẫn ung dung ngồi nh́n cái bánh chưng treo tọng-teng trước mặt như để luyện công phu chống lại mọi cám rỗ. Tôi nói với anh ta coi chừng xôi hỏng bỏng không, như anh Tr.., miếng ăn đến miệng mà c̣n mất.

Anh Tr..bị kiết lỵ cả tuần, uống “Xuyên Tâm Niên” nên nằm liệt giường, ngày đầu ăn được chén cháo, ngày thứ hai nửa chén, ngày thứ ba chỉ c̣n sức để uống nước cháo nhưng lúc nào cũng hỏi: “Chừng nào trại phát bánh chưng?”. Sang ngày thứ sáu th́ anh không ăn ǵ được nữa, anh em khuyên Tr.. cố gắng nuốt chút nước cháo cho có sức, Tr.. th́ thào nói:

- Tôi chờ ăn bánh chưng, mai trại phát bánh chưng, tôi ăn một lúc cho đă.

Nhưng than ôi, miếng ăn đến miệng mà c̣n mất! Không phải ai lấy mất của anh mà anh mất đúng vào ngày trại phát bánh chưng!

Muốn quên đi cái h́nh ảnh quá khứ thiếu thốn và hiện tại dư thừa, tôi ngồi vào bàn đọc tin tức đồng bào gần xa đang chuẩn bị đón Xuân.

Mở cái tựa đề của tờ báo Xuân Việt Báo “Đón Xuân 2014 Ở Xóm Nghèo Miền Núi”, tôi thấy bài báo kèm theo h́nh ảnh về cái nghèo nàn và buồn tẻ vào những ngày cận tết ở một huyện miển núi thuộc tỉnh Kiến An. Tim tôi đập nhanh, tôi lấy tay xoa mặt, xoa mắt nh́n cho rơ, Kiến An trong bài báo chính là quê tôi vào thập niên 1950. Chú bé đi cà-kheo chính là h́nh ảnh của tôi 65 năm về trước, nhưng em có áo ấm hơn tôi và thêm đôi dép nhựa.

Ngày xưa ấy, nhà tôi nghèo lắm, tôi chỉ phong phanh cái quần đùi, chân đất đi cà-kheo giữa tiết Đông lạnh buốt. Mảnh ruộng, luống rau, xa xa vài mái nhà tranh chính là h́nh ảnh xóm nghèo quê tôi năm xưa vào những ngày cận tết. Đọc bản tin, ngắm tấm h́nh mà toàn thân tôi như tê hẳn đi, nhắm mắt lại, tôi thả hồn về quá khứ…

Làng tôi nằm ở ngă ba đường nối liền tỉnh Kiến An và thành phố Hải Pḥng, chỉ cách hai nơi này chừng ba cây số, lưng làng dựa vào chân núi Cựu Viên, có người cỏn gọi là núi Kha Lâm, trên đỉnh cao nhất, sát với tỉnh lỵ Kiến An có đài thiên văn do người Pháp xây. Núi không có cây cao, rừng rậm mà chỉ toàn là cỏ may* và những vạt cây thấp xen lẫn những bụi xim nên trẻ làng thường chăn trâu trên đó rồi đi t́m xim chín, chia phe đánh trận, thi chạy cà-kheo, mệt th́ ngồi nh́n sang thành phố Hải Pḥng nơi có những ống khói cao vút của hăng ciment.
(*đi vào vùng cỏ may th́ bị bông cỏ ghim vào ống quần, gỡ mệt nghỉ)

Phía trước mặt làng, ngoài lũy tre xanh là cánh đồng ruộng nước chạy dài tới bờ sông Chảy, con sông nối liền tỉnh lỵ Kiến An và Hải Pḥng. Cánh đồng nước là nơi chúng tôi lặn lội ṃ cua bắt ốc, câu cá. Với vị trí địa dư, phong thủy đẹp như thế lẽ ra làng tôi phải vượng lắm, nhưng các cụ trong làng đồn rằng “hàm rồng” ngay chân núi đă bị bọn 3-Tàu từ Hải Pḥng sang mua lấy làm nghĩa trang nên làng tôi nghèo. Chuyện phong thủy đúng sai chưa biết, nhưng dải đất giữa chân núi và làng tôi là nghĩa trang của người Tàu sống ở Hải Pḥng.

Làng nghèo th́ gia đ́nh tôi cũng nghèo theo, chỉ tạm đủ ăn và đón cái Tết khá đạm bạc, nhất là kể từ sau ngày bố tôi qua đời. Trước Tết, bố tôi c̣n mạnh khỏe, lo toan mọi việc để chuẩn bị đón Xuân, nhưng rồi bất ngờ ông ngă bệnh, thầy lang bắt mạch nói bố tôi bị bịnh “thương hàn”, cho uống thuốc Bắc và chỉ trong một thời gian ngắn, chừng độ một tháng, chưa hết vài thang thuốc th́ bố tôi ra đi. Bố tôi sinh năm 1906, qua đời ngày Rằm (15) tháng Giêng (ta), năm 1947, hưởng dương 41 tuổi.

Vào thập niên 1950 ở làng quê tôi, không có nhiều thứ bệnh, chẳng biết cao mỡ, cao máu là ǵ, hễ bị bệnh th́ gọi là bị bệnh “thương hàn”, cạo gió, xông hơi dăm ba ngày không thuyên giảm th́ người nhà chạy ṿng quanh trong làng, ngoài huyện t́m thầy lang, mời thầy đến bắt mạch, thầy không đến th́ người khỏe kể bệnh của người ốm (đau) rồi thầy hốt thuốc, thầy bốc những cây lá khô, ít cam thảo, trần b́ (vỏ quưt) rồi phán “cơm 3 chén, thuốc 3 thang” là khỏi, không khỏi là “đi” chứ đâu cần đi “khám bác sĩ”, mà bác sĩ là cái ǵ nhỉ? Là ông quan đốc sống ở lưng trời, đâu phải như thời nay ở hải ngoại, sờ đâu cũng có thuốc, đi đâu cũng đụng bác sĩ, “tới hẹn lại lên” mà không đến th́ pḥng mạch gọi tele nhắc nhở.

Những năm sau khi bố tôi ra đi th́ giặc lại “tràn về qua thôn xóm” nên gia đ́nh mẹ góa con côi chúng tôi tản cư sang Tiên Lăng, Văn Khê rồi lại hồi cư về nhà cũ, thu hẹp đời sống quanh quẩn dưới mái tranh, cạnh ruộng vườn. Năm xưa ấy, sát bên nhà là mảnh vườn mà vào cuối năm, sau khi bắp đă bẻ, khoai đă rỡ (nhổ) th́ mẹ tôi và mấy chị vuôn luống trồng xu-hào, rau cải, hành lá v.v... Rau cải và hành dùng để nén** dưa ăn tết, xu hào th́ mang bán lấy tiền mua đường trà mắm muối.
(*rau cải và hành để nguyên cây phơi héo rồi xếp vào vại, rắc muối, dùng vật nặng đè nén chặt lên trên, gọi là nén dưa, muối mặn như vậy th́ để được lâu).

Tôi nhớ măi một lần theo mẹ đi chợ Tết ở ngă ba Quán Chữ vào cuối năm 1953, chợ Tết nhà quê đơn sơ mộc mạc, mẹ tôi đội trên đầu thúng đựng củ xu hào, c̣n tôi được mẹ giao cho đeo cái bị cói đựng hơn chục quả trứng gà, mẹ tôi nói bán xong hàng th́ mua thịt lợn (heo) về gói bánh chưng và mua cho tôi và thằng em út mỗi đứa một đôi guốc, nhưng chẳng may tôi vấp ngă làm vỡ vài quả trứng, tôi mếu-máo, mẹ xoa đầu an ủi:

- Không sao đâu con, vỡ có vài quả thôi, ḿnh mua bớt thịt đi cũng được mà.

Chợ quê với những cụ già hiền lành mộc mạc đơn sơ, đơn sơ như những mặt hàng Tết nhiều rau, nhiều củ mà ít bánh kẹo. Mẹ tôi mua được miếng thịt lợn lớn hơn bàn tay, ít thịt nhiều mỡ, để đủ gói chục cái bánh chưng. Mẹ mua cho tôi đôi guốc, nhưng tôi không dám đi mà kẹp nách trên đường về để dành cho mới, để khoe mấy thằng bạn cùng xóm, những thằng em bà con họ hàng như Tô Văn Giao, Tô Văn Đát+, Tô Đức Hạnh+, Tô Thanh Chiêu+ (+ đă chết) để sáng Mồng Một Tết cũng:

- Chí cha chí chát khua giầy dép, đen thủi đen hui cũng lượt là.

Nhưng rồi tai họa ập đến vào những ngày cận Tết, không riêng gia đ́nh tôi mà cả làng bị Tây đuổi! Mỗi gia đ́nh nhận được thông báo rằng tất cả phải dời đi nơi khác để nhà nước trưng dụng đất làng làm vị trí đóng quân, quân đội Pháp từ xa tập trung về những vùng xung quanh thành phố Hải Pḥng. Họ đến kiểm kê nhà đất, đếm từng cây cau, cây mít để bồi thường tiền rồi người dân muốn đi đâu th́ đi!

Xóm làng đang yên b́nh th́ tan đàn xẻ nghé, tứ tán bốn phương, không ai c̣n tâm trí nghĩ đến “tết nhất” nữa, mà vội vàng t́m nơi tá túc ở những làng lân cận. Buồn nhất gia đ́nh tôi vừa làm xong nhà mới, một dinh cơ nhà năm gian hai trái, ao cá sân gạch khá khang trang do anh chị Cả của tôi làm công chức bên Hải Pḥng về xây dựng cho mẹ và các em, nhà mới c̣n thơm mùi gỗ mà bị phá đi th́ đau ḷng biết là dường nào! Kêu trời th́ trời ở xa, kêu người có quyền ở gần th́ họ có súng nên đành bỏ tất cả mà xách bị cói đựng vài bộ quần áo vá mà ra đi. Anh chị Cả tôi lại đón mẹ và các em sang ở chung trong căn nhà nhỏ ở khu phố Dinh, Hải Pḥng. Đó là nguyên nhân chính khiến toàn thể gia đ́nh mẹ con anh chị em tôi di cư vào Nam tháng 3/1954. Nếu làng không bị đuổi th́ chắc rằng mẹ tôi sẽ chẳng bao giờ bỏ mảnh đất yêu thương làng nước mà di cư vào nơi xứ lạ.

Có bị ĺa xa quê cha, mả tổ mới thấy tiếc, thấy thương, thấy nhớ cái bờ ao có ba tảng đá kè làm chỗ rửa chân, có cây xi nghiêng ḿnh trên mặt nước thả rễ xuống đám lục b́nh. Có bị ĺa xa nơi chôn rau cắt rốn tôi mới thấy nhớ hàng cau trước nhà, trên bẹ cau có tổ chim, tôi ŕnh nghe tiếng chim non chíp-chíp là biết con chim đă đủ lông để trèo lên bắt. Tôi nhớ cây ḅng đào sau hè, trái to xum xuê, loại bưởi (ḅng) múi đỏ vỏ vàng, vị ngọt chua-chua nhiều người ưa thích. Tôi tiếc bờ tre xanh rậm rạp nơi mà đàn c̣ trắng thường bay về đoàn tụ mỗi buổi chiều, ríu rít chia nhau chỗ ngủ đêm. Mỗi cành cây, mỗi tấc đất đều có đấu chân anh em tôi, cỏ cây như có linh hồn níu kéo chân người bị đuổi đi, huống chi bên ngoài lũy tre xanh kia, nơi nghĩa trang, cha tôi c̣n nằm đó mà chúng tôi phải ĺa xa chưa biết đi về đâu, đó là cái Tết buồn đau sau cùng trên đất Bắc, làng Cựu Viên, tỉnh Kiến An, thành phố Hải Pḥng.

Thực ra th́ những năm về trước, thập niên 1950, khi bố tôi c̣n sinh tiền th́ Tết quê tôi vui lắm. Những ngày cuối năm, sau khi việc đồng áng đă xong, trong họ ngoài làng bàn tính chuyện đón Tết mà việc quan trọng nhất vẫn là chuyện gói bánh chưng, người nào việc nấy. Bố tôi chặt tre chẻ lạt, đánh gốc tre già phơi khô làm củi để nấu bánh, mẹ tôi tính chuyện đỗ (đậu) gạo, c̣n đám anh em trẻ con chúng tôi th́ lăng xăng khắp xóm, nghe tiếng “eng-éc” lợn bị chọc tiết ở đâu th́ ùa nhau đến xem, chầu chực xin cho được cái bong bóng (bọng đái lợn), đem chà sát với tro bếp cho thật mỏng, thổi căng phồng thành trái bóng rồi chí chóe đá bóng với nhau trên đám ruộng khô c̣n nguyên gốc mạ.

Nhiều gia đ́nh hang xóm láng giềng chung nhau giết một con lợn, gọi là “đánh đụng” để lấy thịt gói bánh, thịt chia ra từng phần, tùy theo nhu cầu giầu nghèo mà lấy nhiều phần hay ít. Hồi đó chưa có tủ lạnh nên tôi thấy mẹ tôi sát muối vào thịt rồi xếp vào cái ang, cái thẩu bằng sành để giữ cho thịt được lâu dăm bữa nửa tháng.

Ngày gói bánh th́ vui hơn Tết, đàn ông khom-khom gói, đàn bà mở-mở lá chuối lau, bà kiếm cút rượu và bày đồ cho ông nhắm. Trẻ con như chúng tôi th́ lăng xăng chạy ṿng quanh, chọc nhau cười chí chóe, giả vờ đụng tay vào những nắm đậu xanh rồi vội nhặt hạt đậu rơi ra bỏ miệng. Khi gói sắp xong, phần gạo đậu dư ra th́ mỗi đứa nhỏ được gói cho cái bánh bằng nắm tay gọi là bánh “gù”. Bánh gù để bên trên nồi cùng luộc chung với bánh chưng, thế là tụi nhỏ cũng thức, ngồi quanh bếp hồng, nằm co quắp trong ổ rơm chờ bánh chín.

Ngày Mồng Một Tết th́ kiêng đủ thứ nên trẻ con không được phá phách, được mặc quần áo mới, theo đuôi người lớn đi chào ông bà cha chú bác trong họ hàng để nhận tiền mừng tuổi. Có tiền nhưng không có bánh kẹo hay đồ chơi để mua nên đưa mẹ giữ hộ, hay mẹ “bán” cho một con gà con mới xuống ổ để làm vốn riêng, gà lớn đem bán lấy tiền mua bút, mua sách hay để dành tới Tết năm sau mua áo mới.

Mồng Hai Tết, theo Mẹ và các chị đi thăm ông ngoại, các cậu d́, em ruột của mẹ, ở làng Vân Quan, cách xa nửa ngày đường đi bộ, và chỉ đi bộ nên chúng tôi cảm thấy mỏi chân, xa lắm, bù lại đến nhà d́ th́ được “ăn cỗ”.

Một lần đi chúc Tết bác Tô Văn Ưng ở làng Khúc Giản, thấy ông bác nhấp nhấp chén (chung) nước màu hồng-hồng, mùi thơm-thơm, ŕnh lúc ông quay đi, tôi nếm thử, thấy ng̣n-ngọt, cay-cay, trẻ con them ngọt nên tôi bèn ực luôn một hơi rồi lỉnh ra vườn trốn, một lúc sau tôi thấy chóng mặt rồi nôn mửa (ói), trong bụng có ǵ cho ra hết, nằm vật ra góc vườn, tôi không biết là ḿnh bị say rượu. Chiều ra về, tôi hết tung tăng, báo hại bà chị, đường xa chân đi guốc mà phải cơng thằng em trên lưng. Lần đầu tiên tôi trong đời tôi biết mùi rượu nếp cẩm là ǵ.

Từ Mồng Năm Tết trở đi th́ vui lắm, dọc theo hai bên đường dẫn đến đ́nh làng, người ta cắm cờ đuôi nheo, cắm phướn bay phần phật trước gió Đông. Đ́nh làng tôi có cây đa già vài trăm tuổi, không có chú cuội mà chỉ có những “ông b́nh vôi” ngồi gốc cây đa. Cành đa vươn xa trên mặt hồ nước, lủng lẳng trên đó những dây đu, bóng dâm lá đa làm mát mặt những anh thợ cày đổ mồ hôi. Đầu đ́nh làng có cây gạo cao vút tầng mây, xa nửa ngày đường cũng trông thấy, trên ngọn cây người ta cắm lá cờ ngũ sắc báo hiệu ngày vui. Trống đ́nh tùng-tùng liên hồi như thúc dục làng nước gần xa mau về sân đ́nh xem khai hội.

Khai mạc hội Tết với màn đánh vật, đánh vật là hai thanh niên cởi trần ôm nhau, vờn nhau lừa miếng vật đối thủ, anh nào bị đè nằm ngửa dưới đất hay bị nhấc bổng lên là thua. Tiếng trống “thùng-thùng” thúc quân, dân quây ṿng tṛn hô hào cổ vơ, thanh nhiên hồi đó đánh vật chỉ trông vào sức khỏe và nhanh nhẹn chứ không hề biết môn vơ nào cả. Ngoài môn đánh vật ra, c̣n nhiều tṛ giải trí khác như nhẩy bao bố, đập nồi niêu, trèo cột mỡ, đuổi bắt vịt dưới hồ và hồi hộp nhất là tụi nhỏ chúng tôi đứng trân ḿnh nh́n anh trai cày, chị gái cấy ôm nhau đánh đu:

“Trai đu gối hạc khom khom cật.
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa ḷng
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song”
(Hồ Xuân Hương)

Dân quê tôi quanh năm suốt tháng cúi mặt với đất, phơi lưng cùng trời, đàn ông thanh niên cả đời theo đuôi trâu, luôn miệng “vắt-vắt, họ-họ”, vất vả với những con trâu trẻ ham chơi chỉ biết “sáng tai họ, điếc tai cày”. Đàn bà phụ nữ làng tôi, đầu đội, vai gánh, quần một ống, quần hai ống, ống thấp ống cao, xắn tới bẹn, cả ngày ngâm nước, không sợ đỉa, không sợ thâm (?) chỉ mong sao cắm nhanh nắm mạ, cấy cho xong vạt ruộng trước khi trời tối. Nhưng cấy xong rồi, chưa về tới nhà đă nghe “lợn kêu, con khóc”, và chắc ǵ đă yên thân với ông chồng lười ngồi rung đùi rít điếu thuốc lào, thủy hỏa giao nhau kêu ṣng-sọc, ngửa mặt lên trời nhả khói, say thuốc tê mê đang mong vợ về, mơ tưởng tới chuyện “ṭm-tem”.

V́ vậy, khi chuyện đồng áng đă xong, “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” nên nam nữ già trẻ lớn bé tụ về sân đ́nh xem hội. Ngoài những môn thi đua, quanh xóm đ́nh c̣n có những thú vui khác là đánh sóc đĩa, tổ tôm, chắn cạ, tam cúc (lúc đó chưa có chơi bài loại 52 lá ách đầm già), hấp dẫn nhất vẫn là những gian hàng “mộc-tồn” (mộc tồn là cây c̣n, là con cầy), bánh đúc đậu rán chấm mắn tôm, canh bánh đa, bún riêu, cua luộc, nải chuối tiêu treo bên cạnh keo kẹo bột, kẹo lạc, bát nước chè xanh và cái điếu cày, toàn những món khoái khẩu chế biến từ nông sản địa phương.

Ngày ấy quê tôi c̣n xa lạ với tiếng “phở”, chưa biết bún thịt nướng, ḅ 7 món là ǵ, cao lương mỹ vị làm từ thịt, từ sữa c̣n quá xa lạ với dân quê. Tội nghiệp những đứa trẻ con chúng tôi, vân vê mấy đồng xu mừng tuổi trong túi mà có quá nhiều thức ăn ngon th́ làm sao đây? Đứng ḍm thèm chảy nước bọt, thằng Chiêu* móc 5 hào mua cái bánh rán rồi cả đám chạy đi, vừa chạy vừa truyền tay nhau mỗi thằng cắn một miếng. Ăn hết cái bánh rán, cả bọn đứng lại trước quán bún riêu, thơm quá, nhưng làm sao 5 thằng ăn chung một bát? Thôi, không thèm ăn bún riêu, thằng Đát* bảo thế rồi nó mua một đồng lạc rang để dễ chia nhau hơn.
(*Đ/Úy Tô Thanh Chiêu, TĐ4TQLC đă tử trận và mất xác tại băi biển Thuận An, Huế vào ngày 25/3/1975, Thượng sĩ Tô Văn Đát, Thiết Giáp, tử trận tết Mậu Thân 1968)

Ngày vui qua mau, hết Tết, người lớn tiếp tục thay trâu cày, trẻ con áo cánh quần đùi chân đất, tay cầm cuốn tập góc quăn queo chạy tới lớp trong khuôn viên nhà thờ có thầy giáo Đại. Lúc nào tay thầy cũng cầm cái thước kẻ, thầy bảo x̣e tay ra, tay dính mực là thầy khẻ “chát-chát”, tuy có rát nhưng c̣n dễ chịu hơn khi nghịch quá thầy bắt úp bàn tay, thầy gơ lên mu, đau quá cái mu bàn tay. “Miếng ngon nhớ lâu, đ̣n đau nhớ đời” những cái Tết tuổi nhỏ quê nghèo làm sao quên?
***
Tháng 3/1954 gia đ́nh tôi di cư vào Nam, miền xanh tươi lúa chín đầy đồng, cá lội đầy sông, đất rộng người thưa, dân hiền ḥa, nước thanh b́nh nên người dân miền Nam vui Xuân đón Tết thật tưng bừng náo nhiệt. Tuy lúc đầu có đôi chút khác biệt về phong tục, nhưng rồi dân di cư hạnh phúc khi thấy bánh chưng ngồi cùng bánh tét, đậu phộng nằm chung với lạc, rau muống với giá sống sống chung, là người một nhà, và người miền Nam có một ước nguyện đầu năm thật đơn giản dễ thương được tượng trưng bằng một mâm trái cây gồm “cầu, dừa, đủ, xài” với cặp trái vú sữa to tṛn, dưa hấu đỏ ḷng mát dạ những ngày Tết nóng đổ mồ hôi.
(Ngày nay ở hải ngoại, vẫn giữ phong tục mâm trái cây cúng Tết, nhưng các bà thay trái măng cầu bằng trái táo, tiếng Tây gọi là bơm, “bơm dừa đủ xài”)

Từ Khánh Hội tới Bàn Cờ, qua Ḥa Hưng, đến Chí Ḥa Ngă Ba Ông Tạ, sang Trương Minh Giảng, Bùi Phát, đi Xóm Mới, G̣ Vấp v.v…không khí Tết, buôn bán Tết tràn ngập phố phường. Pháo bắt đầu nổ tưng bừng, “ly rượu mừng”, “Xuân này con không về” trên làn sóng phát thanh và trên bàn nhậu thâu đêm suốt sáng vẫn không say.

Tuổi đang lớn, tôi được hưởng những cái Tết thật hạnh phúc, ấm cúng và đầy đủ trong ṿng tay mẹ già, anh chị em đoàn tụ, hàng xóm tử tế và h́nh như tôi bắt đầu thấy cô hàng xóm cũng dễ thương.

Ở hẻm 172/27 Đỗ Thành Nhân Khánh Hội, cái hẻm tráng xi-măng rộng chừng sải tay, hai xe đạp đi ngược chiều không lọt, chiều chiều bà con hàng xóm ra ngồi trước cửa hóng mát nói chuyện th́ em Cúc-Hà ở nhà đối diện cũng ra ngồi “hóng chuyện”, tôi cũng chân co chân duỗi ngồi đối diện nghe thiên hạ bàn chuyện làm mứt gừng mất bí, chả hiểu vô t́nh hay cố ư mà ngón chân cậu con trai 16 tuổi đụng đúng điểm huyệt gan bàn chân cô gái 13, thế là lườm, là nguưt, là x́, là bỉu môi, nhưng rồi cuối cùng th́ cũng rủ nhau dung dăng tay trong tay đi xem chợ Tết, chợ Xóm Chiếu, chợ Khánh Hội

“T́nh chỉ đẹp khi c̣n dang dở” khiến tôi nhớ măi tên em, trai gái buông tay nhau, tôi ôm súng, ngồi cḥi canh gác đêm cổng Tôn Thất Lễ ở trường Vơ Bị, sương mù che mắt, lạnh thấu xương, kéo mũ chùm đầu thêm cái nón sắt mà dường như tôi vẫn nghe văng vẳng “Đón Giao Thừa Một Phiên Gác Đêm...”, “nếu con không về chắc mẹ buồn lắm” từ khu cư xá Chi Lăng vọng lại! Đêm ấy là đêm trừ tịch 1962, tôi đưa tay áo trận lau nước mắt.

Đêm Giao Thừa mà khóc th́ vất vả cả năm, đúng sai tùy ḷng tin của mỗi người, nhưng từ đó tôi đón Xuân, ăn Tết cùng đồng đội Cọp Biển TQLC khắp 4 vùng chiến thuật, từ Bến Hải đến Cà Mau, cái Tết nào cũng nhiều vất vả. Cái Tết 1965 đầu đời binh nghiệp là ở TĐ.5/TQLC bên suối Lồ-Ồ Dĩ An với nhiều bất an, hồi hộp, lo âu.

Băi tập chiến thuật của TĐ5 là cánh rừng thưa dưới chân núi Châu Thới có nhiều mai vàng đang nở, mà dẫu cho “nếu mai không nở th́ ..” th́ cảnh sắm Tết của người dân Thủ Đức, Dĩ An, Biên Ḥa cũng cho chúng tôi biết Xuân đang về nên khi thực tập bài học trung đội tấn công, anh em binh sĩ đă gài vào người những cành mai rừng, việc này sai với nguyên tắc ngụy trang, nhưng tôi chỉ mỉm cười, v́ nếu anh em binh sĩ nào tinh ư cũng thấy trên ngực áo trận tôi gài cành mai nhỏ có hai bông. Mới tốt nghiệp thiếu úy, ra trường chưa tṛn tháng mà đă gài hai bông mai trên áo là điềm hên, xui ǵ đây? Thăng cấp hay truy thăng?

Kèn báo động, Tiểu Đoàn ra lệnh tập họp, súng đạn sẵn sàng để lên đường tiếp viện ngay đơn vị bạn-Tiểu Đoàn 4/TQLC đang đụng trận nặng.

Cái ǵ thế? Chúng tôi nh́n nhau lo âu ngơ ngác, pḥng “văn khang” hoa rượu bánh mứt đă sẵn sàng trên bàn tiệc, ngoài cửa, biểu ngữ “Cung Chúc Tân Xuân” và những lá cờ bay phất phới, nhưng không khí buồn đau tràn ngập, tin dữ dồn dập gửi về, TĐ.4/TQLC đang đụng rất nặng tại B́nh Giả. Đại Đội Trưởng ĐĐ4/TĐ.5 là Tr/Úy Dương Bửu Long nhắc binh sĩ coi kỹ lại súng đạn chuẩn bị lên đường rồi anh kéo tôi ra xa nói nhỏ:

- Tiểu Đoàn Trưởng TĐ4, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nho, Tiểu Đoàn Phó Đại Uư Trần Văn Hoán, Bác Sĩ Trương Bá Hân và mấy người bạn cùng khóa của mày là Kháng và Hùng đă tử trận cả rồi, t́nh h́nh nguy ngập lắm*”
(*Theo tài liệu của Trung Úy Trần Ngọc Toàn, ĐĐT/ĐĐ1/TĐ4/TQLC th́ tổng kết thiệt hại của TĐ4/TQLC tại trận B́nh Giả là: 112 tử thương, 120 bị thương, 82 mất tích)

Tin hai bạn đồng là thủ khoa Vơ Thành Kháng và Nguyễn Văn Hùng tử trận vào ngày 31/12/1964 khiến tôi sững sờ, toàn thân tê đi, chúng tôi t́nh nguyện chọn binh chủng tổng trừ bị là chọn hiểm nguy, nhưng không ngờ các bạn tôi lại ra đi quá nhanh, quá sớm!

Chúng tôi tốt nghiệp Khóa 19 Vơ Bị ngày 28/11/1964, vừa trải qua 15 ngày phép măn khóa, cặp lon thiếu úy TQLC óng ánh kim tuyến trắng tinh chưa dính bụi trần, vẫn c̣n hương thơm và dấu tay người yêu, vậy mà các bạn tôi đă hy sinh, đă trả nợ Tổ Quốc xong cả vốn lẫn lời! Người yêu đang chờ các anh về cùng nắm tay nhau ngắm hoa Xuân trên đường Nguyễn Huệ, nhưng các anh đă được truy thăng “trung úy”! Bất giác tôi cúi nh́n xuống ngực, hai bông mai vàng tôi gài lên áo trận ở băi tập đă rơi từ lúc nào? Anh em Mũ Xanh thường tự khôi hài:

-“TQLC sống hùng sống mạnh nhưng không sống lâu”.

TĐ5/TQLC chưa kịp tiếp viện TĐ4/TQLC th́ mọi chuyện đă an bài, chẳng ai thiết “Ngày Xuân Nâng Chén Ta Chúc” mà chúng tôi chuẩn bị súng đạn lên vai, mười hai ngày gạo lên đường hành quân Pleiku, Đức Cơ, Dakto, Tân Cảnh, nơi nào có tiếng súng nổ là có chúng tôi, lần hồi những đồng đội cũ thưa dần v́ “đi phép” dài hạn hay ngắn hạn th́ đơn vị lại có thêm người mới. Khí hậu Cao Nguyên lạnh buốt mùa Đông, mai rừng đă hé nhụy, đơn vị tôi được lệnh về dừng quân ở ngoại ô thành phố Kontum để bảo vệ đồng bào đón Xuân, Xuân 1966.

Tôi rủ mấy người bạn dọoc ra phố Kontum để rửa mắt và nhâm nhi vài ly Vĩnh Tồn Tâm. Phố chính là đường Trần Hưng Đạo nhộn nhịp, đi ṿng ra bờ sông Dabla có quán cafe của em Trâm chân dài ví bự, chả sơ múi ǵ, nốc cạn ly café rồi quay về phố chính, uống café kiểu ngưu ẩm bởi trong ḷng chẳng có ǵ vui. Khi đi ngang tiệm chụp h́nh, thấy lá Quốc Kỳ VNCH không treo mà lại gắn trên tường, thằng bạn Trần Tử Phương, Chuẩn Úy K18 Thủ Đức, gỡ cờ xuống rồi quàng vào người, thằng Ch/Uư Lộc-Lùn, thằng Ch/Úy Cường Tây-Lai, thằng Th/Úy Quang-Gù và tôi, giật lá cờ vàng 3 sọc đỏ ra, đè thằng Phương nằm xuống đất, 4 thằng cầm 4 góc, phủ lá cờ lên người Phương, một thằng bắt nhịp hát:

- ̣ í e, ̣ ̣ í e e e…”.

Tiếng kèn truy điệu bằng mồm vừa dứt th́ Phương vùng dậy, cười toe toét:

- Tao chưa chết.

Là lính th́ ai cũng biết điệu kèn này là kèn ǵ rồi, mà lính đang đi đánh giặc lại chơi như thế th́ đúng là rỡn mặt với tử thần, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lính Mũ Xanh sống hùng sống mạnh nhưng không sống lâu, và Trần Tử Phương đă tử trận sau đó vài tháng.

Tháng 6/1966, trong trận Mộ Đức Quảng Ngăi, Tiểu Đoàn Trưởng Dương Hạnh Phước, Bác Sĩ Lê Hữu Sanh, 2 cố vấn Mỹ cùng nhiều anh em bị tử trận. Riêng Đại Đội 4 của tôi bị nặng, 34 hy sinh. Ch/Úy Trần Tử Phương và Ch/Úy Thảo tử trận, Th/Uư Lộc bị thương, Tr/Úy Dương Bửu Long bị thương, Th/Úy Lê Đ́nh Quỳ bị VC bắt sống, tôi thoát nạn, v́ trước khi đi hành quân, tôi lỡ hỗn với thượng cấp, bị phạt 15 ngày trọng cấm, bị nhốt ở QC 202 trong khi Tiểu Đoàn đi hành quân Mộ Đức.

Đám lính trẻ chúng tôi lang thang phố phường Kontum xem dân sắm Tết, đi qua tiệm bán đồ kỷ niệm, thấy có con báo (beo) nhồi bông đẹp quá, tôi hỏi mua, cô chủ tiệm bảo không bán, để trưng thôi. Tôi th́ chịu, c̣n nàng chẳng chịu, thua th́ thua cứ níu lấy con …beo, cuối cùng bí nước, nàng chọc quê lính nghèo, cô nói thách giá “3 ngàn”. Lương thiếu úy chưa tới 5 ngàn, mới lănh và đang dạo phố chưa có chỗ tiêu, tôi móc ra đếm, nắm tay cô hàng đặt vào 3 ngàn rồi tôi ôm con báo nhồi bông trước cái nh́n ngơ ngác của cô chủ tiệm.

“Xuân này con không về chắc mẹ buồn lắm”, vừa hát xong tôi nhớ đến mẹ, đến anh chị tôi, chắc gia đ́nh cũng đang chuẩn bị đón Xuân, mẹ đang nghĩ đến con, anh nghĩ đến em nhưng không biết nó đang phiêu bạt nơi nào? Tôi quyết định gửi con beo này làm quà Tết biếu mẹ và anh chị, tôi nhờ thằng bạn cùng khóa là Th/Úy Huỳnh Văn Phú mang về Saigon dùm, v́ Phú được đi phép.

Đêm về đang nằm vơng đu đưa, nghĩ đến lúc gia đ́nh nhận được quà chắc là mừng lắm, như có tin vui con em ḿnh c̣n sống... th́ tôi nghe súng nổ, tiếng nổ chát chúa ngay chỗ tôi nằm, vơng đứt dây, tôi lăn xuống hố. VC tấn công, chẳng có chi lạ, mấy hôm nay chúng vẫn ḍ dẫm bắn quấy rối vào vị trí đóng quân của TĐ.5, nhưng tối nay có vẻ căng hơn, chúng bắn B40 và cả trung liên RPD.

Mùi tanh, vị mặn, đau rát khắp mặt, tôi biết ḿnh đă bị thương, đưa tay vuốt mặt nhưng tôi không nh́n thấy ǵ cả v́ trời tối đen, nghe loáng thoáng B1 Nguyễn Văn Đá, cao-bồi của tôi, gọi y tá, tôi được tản thương vào bệnh viện Kontum.

Ngày thứ ba, bác sĩ gỡ băng ở mắt tôi ra, ông ta quơ tay trước mặt tôi và hỏi:

-Thiếu úy có nh́n rơ không?

-Rơ, 5/5, bàn tay 5 ngón.

-Tốt, may lắm, chỉ là vỏ cây và đất đá văng vào mặt vào mắt thôi, không có miểng đạn...

Binh Nhất Đá đến đón tôi xuất viện, cướp lời vị bác sĩ như để an ủi tôi thêm:

- Nhưng cái vơng của ông thầy đă bị miểng B40 chém rách và đứt dây rồi.

Tôi đă nhắm mắt đón Xuân 1966 trong bệnh viện, đây là lần đầu tiên tôi bị thương trong 5 lần đời binh nghiệp, nhưng c̣n sống th́ c̣n Xuân, chỉ thương cho B1 Đá, quê quán tại Phước Lễ Vũng Tàu, đă chẳng bao giờ có mùa Xuân đến với em nữa, em đă tử trận sau Tết năm đó trên con rạch ở rừng thơm trong mật khu Lư Văn Mạnh, Đức Hoà, Hậu Nghĩa.

Xuân đến Xuân đi rồi Xuân lại đến, nhưng anh em lính chiến TQLC chúng tôi th́ vẫn đi, đi để bảo vệ quê hương, để đồng bào đón Xuân trong thanh b́nh và đă nhiều anh em tôi ra đi, đi măi trong những cuộc hành quân này.

Những ngày tháng cuối năm 1967, Chiến Đoàn B TQLC gồm TĐ1 và TĐ2 lùng và diệt địch trong vùng Định Tường, Giáo Đức, Cai Lậy v́ tin cho biết 2 tiểu đoàn VC địa phương 261 và 262 sẽ đánh phá vùng này, muốn chiếm Quận Giáo Đức và Cai Lậy, hai cái yết hầu trên QL4 để ngăn chặn nguồn tiếp tế từ vùng IV về Saigon, cắt nguồn lương thực không cho đồng bào ăn Tết và rồi trận chiến đă xẩy ra đúng như dự đoán.

Trận chiến trên kinh Cái Thia kéo dài từ sáng sớm tới đêm khuya. Đêm hưu chiến 31/12/1967, trên kinh Cái Thia, cách quận Cai Lậy chừng 10km, TĐ2 Trâu Điên đă đụng độ ác liệt với 2 tiểu đoàn VC là 261 và 262, Trâu Điên đă chôn vùi chúng trên con kinh này, nhưng cái buồn nhất với tôi là một số đồng đội đă bị thương và tử thương, trong đó có đàn em thân tín như ruột thịt, em đă hy sinh một cách anh dũng, v́ đồng đội mà hy sinh, em vĩnh viễn ra đi khi vừa mới cưới vợ trước chuyến đi hành quân ấy, đó là:

Nguyễn Quốc Chính, K20VB, Tr/Úy ĐĐP/ĐĐ.1/TĐ.2TQLC.

Chiến Đoàn B/TQLC đă hoàn thành nhiệm vụ an dân, Trâu Điên được dừng quân ở hai bên bờ sông Cai Lậy, anh em thay quần áo sạch để chuẩn bị đón Xuân. Chị Vũ Doàn Dzoan, chị Trần Văn Hợp và nhiều chị khác đă từ Saigon Thủ Đức đem con xuống Cai Lậy để vợ chồng cha con đoàn tụ trong ba ngày Tết. Cảm động nhất là thân mẫu của Tr/Uư Lâm Tây Đô cũng lặn lội từ xa mang quà đến cho con trai, “Xuân này con không về” th́ mẹ ra tiền tuyến thăm con, nhưng vui chưa trọn th́ đă buồn chia tay. Đúng ngày đầu Xuân, VC đă xé lệnh hưu chiến, đem thần chết đến nơi nào có dân đang ăn Tết, Tết Mậu Thân 1968 để tấn công, anh em Trâu Điên phải vội vă lên đường về giải phóng Thủ Đô Saigon, để lại nơi “tiền tuyến” Cai Lậy mẹ già, vợ dại con thơ, gói quà Tết chưa kịp mở.

- “Anh Về Thủ Đô Chúng Tôi Chờ Mong”. Lời bài ca nói thế.

Chúng tôi đă về thật, nhưng chúng tôi về để diệt kẻ thù ngay trong ḷng thủ đô, chẳng ai chờ mong chúng tôi về trong hoàn cảnh éo le này. Ngày Tết chúng tôi về th́ mẹ già lại khăn gói chạy giặc. Nếu như Tết năm 1963, khi c̣n là SVSQ, tôi được đi phép về Saigon ăn Tết, tôi đă được làm quen với em rồi chở nàng đi Lăng Ông xin xâm th́ Xuân này, Mậu Thân 1968 tôi đă đem quân tấn công vào mục tiêu trong xóm đó có nhà em. Chúng tôi đă được về thủ đô ăn một cái Tết mất mát nhiều hơn vui, tiếng đạn nhiều hơn tiếng pháo, xác pháo phủ xác người, xác người đè lên xác pháo.

Ở mặt trận ngă ba Cây Thị, rạp hát Cao Đồng Hưng, địch ẩn núp trong nhà dân, ngơ hẻm chằng chịt ngoằn ngoèo, Hạ Sĩ Thành vốn là thổ địa ở đây nói với người trung đội trưởng:

- Em là dân ở đây, nhà em trong này, thiếu úy để em đi đầu dẫn đường.

Đau thương, HS Thành vừa tiến đến gần nhà ḿnh th́ gục xuống, anh đă hy sinh ngay nơi anh sinh sống, chưa kịp mở cửa nhà để chào mẹ già.
Ở khu vực đài phát thanh Phan Đ́nh Phùng, người yêu t́m đến thăm B1 Thủy và hẹn chiều hôm sau em mang quà đến cùng vui Xuân, nhưng ngay đêm đó Thủy đă hy sinh!

Thiếu Úy Chu có người yêu là cô Tâm, Lương Thị Tâm, ở đường Trần Quang Khải, họ hứa với nhau “Xuân này anh sẽ về và cùng mẹ mang trầu cau tới xin …nắm tay em”, nhưng buồn thay, thân phụ Tâm đă tử nạn trong trận đụng độ giữa VC và TĐ2/TQLC tại xóm Gà. Bà già Tâm không muốn thấy bộ quân phục rằn ri nữa, t́nh Chu-Tâm dang dở, chả đẹp tí nào! Người lính chiến đă hy sinh tuổi trẻ c̣n bị hàm oan, mất cả t́nh yêu.

Tại mặt trận đường Hậu Giang, cư xá Phú Lâm A, Hạ Sĩ Bùi Ngọc Đường đă cứu mạng một phóng viên chiến trường trong đường tơ kẽ tóc, họ trở thành anh em kết nghĩa, chụp chung một tấm h́nh làm kỷ niệm, nhưng rồi sau đó người phóng viên lại hy sinh khi VC tấn công đợt hai, cô con gái 7 tuổi giữ kỹ tấm h́nh của cha và anh lính Trâu Điên trong nhật kư để làm kỷ niệm.

Tháng 7/2008, trên tờ báo lính KBC Hải Ngoại, có bài viết “Người Yêu Trâu Điên”, tác giả N.A nhắc lại kỷ niệm về người cha thân yêu và người lính TQLC, trong đó có đoạn:

Anh Trâu Điên Yêu Dấu.

Khi viết năm chữ này, trái tim em đập những nhịp bất thường, ngón tay cầm viết cũng run rẩy, trước mặt em là tấm h́nh đen trắng.

Anh Trâu Điên biết mà, tấm h́nh này chính Ba em chụp cho anh, tự nhiên Ba cầm tấm h́nh ngắm nghía rồi đưa cho em, nói:

- Tấm h́nh này đẹp quá, muốn giữ không con?

Tấm h́nh Ba khen đẹp quá, em đă ép trong cuốn nhật kư nhỏ, dấu kín giữ cho riêng em mà thôi ..

Tháng Năm năm Mậu Thân, VC lại tấn công thủ đô lần thứ hai ..

Buổi sáng hăi hùng đó, không có anh Trâu Điên, Ba em đă đi luôn ..

Không, Ba có trở về bằng thân xác c̣n nóng hổi, máu c̣n chẩy ra linh láng, ướt hết quần áo em! Hai chị em yếu đuối đă vác xác Ba về …..
Lá thư này em viết nhưng không bao giờ gửi, v́ em đâu biết anh Trâu Điên ở nơi nào trên mảnh đất đầy thống khổ. Em viết lá thư này như một nhu cầu yêu thương dành cho anh Trâu Điên, ngươi bạn trẻ của Ba, h́nh ảnh Ba và anh Trâu Điên luôn gắn liền nhau trong ḷng em. Em giữ măi lá thư không gửi trong cuốn nhật kư.

Với ḷng mong mỏi anh Trâu Điên vẫn c̣n sống sót đâu đó biết rằng trên mặt đất này vẫn c̣n có một người nhớ tới anh Trâu Điên ngày xưa ..” (N.A)
Ư và lời của N.A đẹp hơn bất cứ một bức tranh nổi tiếng nào, đẹp nhưng buồn quá, 40 năm sau mà cô viết lại kỷ niệm như chuyện vừa xẩy ra hôm qua, câu chuyện thật hằn sâu trong tim, con tim rướm máu.

Nhưng cô N.A ơi! Anh Trâu Điên mà cô nhắc đến cũng đă theo chân người anh kết nghĩa, thân phụ của cô. Trâu Điên Bùi Ngọc Đường đă hy sinh trên chiến trường Cao Miên cuối năm 1969.

C̣n với người viết th́ sau khi giải tỏa địch xong tại khu vực đường Thành Thái, khu vực có nhà em, mà không gây thiệt hại ǵ cho dân chúng trong vùng, đang ngồi nghỉ bên vệ đường th́ được một bà cụ đem cho đĩa cơm với miếng thịt heo quay kho tàu và hai quả trứng vịt, cụ bảo:

-Ăn đi con, thịt heo quay kho tàu đấy, an với dưa…

Cụ chưa nói hết câu “ăn với dưa giá” th́ một tràng súng nổ, cụ vội bỏ nhanh đĩa cơm xuống đất rồi chạy vào nhà, một lăo trượng đi tới cười ha hả: “Bà này nhát như cáy, lính người ta bắn chỉ thiên đuổi mấy tên hôi của” rồi ông đến bên, mồi cho tôi điếu thuốc

- Hút với bố điếu thuốc 555 ngày Tết, lính của con giỏi và kỷ luật lắm.

Giữa nơi khói đạn c̣n ngộp thở mà một lăo trượng xa lạ đến thăm lại tư xưng là “bố” và gọi tôi là “con”, khen lính tôi gỏi và kỷ luật th́ c̣n ǵ cảm động cho bằng, ước chi lăo trượng có con gái, tôi thầm nghĩ như thế.
***
Nghe tiếng ú-ớ của anh bạn tù năm xưa, đă 7 giờ sáng rồi, tôi dánh thức:

- Sáng rồi, dậy rửa mặt, đi uống café, lại mơ thấy “bánh chưng” phải không?

Phan Hữu Hạnh, người bạn học Petrus Kư và cũng là bạn tù năm xưa treo cái bánh chưng suốt ba ngày Tết ở Hoàng Liên Sơn, ngồi bật dậy, đưa tay che miệng ngáp rồi đáp:

- Gần như vậy, tao mơ thấy thằng bộ đội quản chế bắt vác một khúc cây to c̣n tươi về trại để nấu bánh chưng. Bố khỉ, sao ác mộng nó cứ đeo đẳng hoài?

- Đó là điều không vui, nhưng cũng nhắc cho chúng ta khỏi quên dĩ văng, nhớ lại cái thiếu trước kia và cái thừa ngày nay ở hải ngoại. Chúng ta đang được hưởng những mùa Xuân hạnh phúc th́ chớ quên đồng đội “vô phúc” nơi địa ngục trần gian. Cũng cần có thêm ác mộng để nhắc nhở cho những con trâu già nham nhở ở hải ngoại hay khoác lác khoe khoang chuyện t́m về chốn cũ gặm cỏ non, chúng gặm cả cỏ non trên mảnh ruộng chéo của đồng đội xưa, những con trâu ḅ mang họ Nguyễn, Trần, Lê, Bùi, Đoàn, Hoàng v.v. ở hải ngoại.

Từ dười bếp có tiếng gọi vọng lên:

- Mời các ông xuống ăn bánh cuốn nóng Thanh Tŕ, chả lụa, nước mắm có cả cà cuống…

Tiếng cô con gái của lăo trượng ngày xưa mời chồng và bạn chồng điểm tâm bánh cuốn gị lụa làm tôi nhớ đến buổi ăn sáng ngày Tết với mẩu sắn luộc rồi nhai luôn cả tim sắn ở trại tù số 8 Hoàng Liên Sơn

“Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa”./.
 

 


Văn


Hỏi ngă chánh tả tự vị
Cách sử dụng "I" và"Y"...
Cải cách tiếng Việt
Dấu "hỏi & ngă" trong tiếng Việt
Luật dấu hỏi & ngă
Gạch nối trong tiếng Việt
Xưng hô tiếng Việt...


Các cấp chỉ huy và đồng đội TQLC

Lạng Sơn Thiếu Tướng Bùi Thế Lân
Tango Đại Tá Nguyễn Thành Trí
Sài G̣n Đại Tá Tôn Thất Soạn


Một ngày không thể quên
Giầy Saut trong tử địa
Những nhân chứng sống sót của một thời thảm khốc
Tôi đi khám Bás Sĩ
Bóng người hay bụi sương?
Lần đầu nhập trận
Cố Trung Tá Nguyễn Văn Nho
Trước sau như một!
Louisiana 2023 – Rằn Ri gặp mặt
Môt ban nhạc lạ đời
Những điều ít người biết về bài hát "Kỷ vật cho em"
An Dương
Ngược ḍng thời gian
Người lính cuối cùng
T́m tự do
Tù cải tạo…Những nỗi buồn khó phai
Danh sách Quân Dân Chính chết trong tu cải tạo
Đón xuân này nhớ xuân xưa
"Tù cài tạo" - Những nỗi vui buồn khó quên
Trở lại Cổ Thành
Những ngộ nhận về chiến tranh Việt Nam từ phía Hoa Kỳ
Gặp gỡ Chú Long Hồ
Tango: Ngày này năm xưa! Ngày này năm nay!
Saigon đă tṛn năm
Ngày về từ rừng núi Hiệp Đức
Trường Sơn bỏ lại sau lưng
Cuộc hành tŕnh
Bên kia bờ sông Thạch Hăn
Chung g̣ng định phận
Kỷ niệm cổ thành Đinh Công Tráng - Quảng Trị 1972
Thiên hùng ca dựng một ngọn cờ
Cố vấn TQLCHK trao Bronze Star cho NT Đặng Bá Đạt
Nhật Kư Cali: Ngàn năm mây bay
Quỳ hôn đất thân yêu
Sau 46 năm nước mắt vẫn c̣n rơi!
Chuyện mắc dịch
Vui buồn cùng Cọp Biển
Cái ǵ của Cesar … Cái ǵ của Thương Phế Binh …
Hỏng rồi tiếng nước tôi !!! Phần 1 - Phần 2
Bạn tôi, người y tá tên Ri
Hai bà chị
Trận đánh tháng 3/75 Quân Khu I
Thu hát cho người
Sự nghiệp 4 chữ, lư tưởng 2 chữ
TĐ2/TQLC Tiêu diệt chiến xa CSBV thuộc Trung Đoàn Tăng-Thiết Giáp 202
T́nh với Nghĩa
Xuân ở nơi nào?!
Tuổi 70, Chán mớ đời!
Họ nhà "Cu"
Con sáo bạc má và người tù
Quân khu IX ơi. Chào mi!
Chuyện về bức tượng TQLC
Tháng 3, kư ức về anh
Ngày ra trại
Một buỗi chiều xuân
Đêm xuân Đà Lạt
Nhánh mai vàng
Phục Hưng Tự