Những ngày
cuối của Việt Nam Cộng Hòa
Tình hình trước Hiệp Ðịnh Ba Lê
LTS: Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa” là một hồi ký của một cựu
tướng lãnh giữ trọng trách trong quân lực VNCH, Tướng Cao Văn Viên. Nhân
30-4-2004 sắp tới và cũng là ngày kỳ niệm 30 năm cộng đồng người Việt ở hải
ngoại, chúng tôi xin đăng tải lại tài liệu này
Sau cuộc tấn công của cộng sản vào tháng 4, năm 1972 (Mùa Hè Ðỏ Lửa), quân đội
VNCH được lệnh tái chiếm các phần đất đang nằm trong tay địch (xem bản đồ 1). Ở
Quân Khu I, hành quân Lam Sơn 72 được khai diễn với sự tham dự của sư đoàn 1 Bộ
Binh (SÐ1/BB); sư đoàn Nhảy Dù (SÐND); sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC); và
các đơn vị phụ thuộc 1. Ðến ngày 15 tháng 9, 1972, quân ta đã chiếm lại thành
phố Quảng Trị và phần lớn lãnh thổ của tỉnh. Một hành lang phòng thủ được thiết
lập song song với sông Thạch Hãn, chạy dài ra bờ biển. Cộng quân chống trả rất
mãnh liệt ở Quảng Trị, và có lúc mở nhiều cuộc phản công không thành ở phía nam
Quân Khu I.
Ở quân khu II, nhiều cuộc hành quân được tổ chức nhằm giải tỏa áp lực địch ở
Kontum, Pleiku, tái chiếm thung lũng An Lão ở Bình Ðịnh, giải tỏa các quốc lộ
19, 21, và đoạn đường Pleiku - Kontum trên quốc lộ 14. Ðể thực hiện nhiệm vụ đó,
quân đoàn II được bổ sung thêm hai liên đoàn Biệt động quân (BÐQ), có cấp số
tương đương hai trung đoàn. Hai liên đoàn này được tổ chức lại và đến từ Quân
Khu IV (quân khu và quân đoàn giống nhau trong ý nghĩa quân sự; quân đoàn I phụ
trách an ninh cho quân khu I; quân đoàn II cho quân khu II, v.v...)
Ở Quân Khu III, lực lượng chúng ta thành công giải tỏa An Lộc và vùng phụ cận.
Tuy nhiên khoảng đường từ Lai Khê lên An Lộc trên quốc lộ 13 vẫn còn bị phong
tỏa.
Trong khi đó, tình hình ở Quân Khu IV nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của quân
đội VNCH. Tất cả các cuộc đụng độ giữa ta và địch đều xảy ra trên đất Cam Bốt.
Tuy nhiên một số xã ấp ở Chương Thiện vẫn còn bị cộng quân chiếm.
Tình hình quân sự trong nửa năm còn lại của năm 1972, nói một cách tổng quát, ta
và địch ngang nhau trên chiến trường. Trong khi đó kế hoạch rút quân của Hoa Kỳ
đang tiếp tục diễn ra. Ðến năm 1973, địch có phần mạnh hơn vì chúng ta không còn
được yểm trợ về không lực của Không và Hải Quân Hoa Kỳ.
Về phương diện chính trị, để đối đầu với tình trạng khẩn trương của năm 1972,
chính quyền trung ương VNCH áp dụng một số biện pháp mạnh. Thiết quân luật được
ban hành toàn quốc; giới hạn và gia tăng điều kiện miễn dịch đối với thanh niên
trong lứa tuổi động viên. Ban hành sắc luật cấm nam công dân trong khoảng tuổi
17 - 43 du hành ra nước ngoài. Cùng lúc quốc hội ủy nhiệm tổng thống được toàn
quyền quyết định về vấn đề kinh tế và quốc phòng trong thời gian từ tháng 7 cho
đến tháng 12 năm 1972. Luật báo chí mới được áp dụng để chính phủ có thể kiểm
soát các cơ quan ngôn luận hữu hiệu hơn. Cuộc bầu cử xã ấp của năm 1972 bị hủy
bỏ. Thay vào đó các tỉnh trưởng được lệnh cải tổ lại cơ sở địa phương và chỉ
định các trưởng ấp và xã trưởng trong vòng hai tháng.
Những thương thuyết đầu tiên
Trên quan điểm quân sự, cộng sản thất bại nặng nề trong cuộc tấn công Tết Mậu
Thân năm 1968. Nhưng về quan điểm chính trị và ảnh hưởng đối với tâm lý quần
chúng, cuộc tấn công Tết Mậu Thân đem lại cho cộng sản ưu điểm. Thắng hay bại,
qua trận Tết Mậu Thân, quần chúng Mỹ thất vọng về cuộc chiến ở Việt Nam. Khi đại
tướng Westmoreland xin tiếp viện thêm hai trăm ngàn quân cho chiến trường, giới
quan sát đi đến nhận xét là cuộc chiến Việt Nam khó giải quyết đơn thuần bằng
vấn đề quân sự. Ngày 31 tháng 3, 1968, tổng thống Johnson tạm ngưng oanh tạc từ
vĩ tuyến 20 trở lên, và đề nghị một giải pháp hòa bình. Cùng ngày, tổng thống
Johnson tuyên bố ông không ra tái tranh cử cho nhiệm kỳ tổng thống sắp đến. Một
tháng sau Bắc Việt đồng ý thương nghị hòa đàm, với cuộc họp đầu tiên vào ngày 10
tháng 5, 1968, giữa W. Averell Harriman và Xuân Thủy 2. Lần nói chuyện đó không
đi đến đâu. Ðể thúc đẩy Bắc Việt thật sự thương lượng và chứng tỏ thiện chí của
Hoa Kỳ, tổng thống Johnson vào ngày 31 tháng 10, ra lệnh ngưng giội bom trên
toàn lãnh thổ Bắc Việt. Nhiều cuộc hội đàm được diễn ra sau đó, nhưng không có
một kết quả nào đáng kể sau một năm dài thương nghị.
Cũng trong tiến trình tìm giải pháp hòa bình cho Việt Nam, ngày 7 tháng 4,
1969, chính phủ VNCH đề nghị một giải pháp sáu điểm:
1. Cộng Sản phải rút hết quân khỏi miền Nam.
2. Ngưng sử dụng căn cứ ở Lào và Cam Bốt.
3. Chủ trương hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc.
4. Sự thống nhất đất nước sẽ được thực hiện trong tinh thần hòa hợp.
5. Cần sự quốc tế kiểm soát để bảo đảm cộng sản sẽ không xâm lấn trong tương
lai.
6. Ân xá cho các phần tử cộng sản ở miền Nam nếu họ tuyên thệ từ bỏ bạo động và
tuân theo luật pháp 3.
Một tháng sau, ngày 8 tháng 5, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đề nghị ngược lại
một lập trường 10 điểm, nhằm chấm dứt chiến tranh:
1. Tôn trọng chủ quyền quốc gia của Việt Nam theo tinh thần hiệp định Geneva.
2. Hoa Kỳ và quân đội Ðồng Minh phải tháo gỡ quân cụ, vũ khí, và rút khỏi miền
Nam vô điều kiện.
3. Vấn đề có mặt của các lực lượng quân sự ở miền Nam sẽ do người Việt Nam tự
giải quyết lấy.
4. Thiết lập một cuộc bầu cử trong tinh thần tự do dân chủ để lập một quốc hội
lập hiến và một chính phủ liên hiệp.
5. Trong thời gian chờ cuộc bầu cử tổ chức, không phía nào được ép người dân
theo chế độ của mình.
6. Miền Nam sẽ theo một chính sách đối ngoại trung lập và hòa bình.
7. Sự thống nhất đất nước sẽ theo những giai đoạn hòa giải, không có sự can
thiệp của ngoại quốc.
8. Hai bên sẽ tránh liên kết về quân sự với nước ngoài trong khi chờ đợi sự
thống nhất.
9. Vấn đề trao trả tù binh sẽ được hai bên giải quyết.
10. Quốc tế sẽ kiểm soát Hoa Kỳ và Ðồng Minh rút quân khỏi Việt Nam.
Hai giải pháp có nhiều dị biệt. Những dị biệt chánh là (1) VNCH nhấn mạnh điểm
cộng sản phải rút quân khỏi miền Nam, trong khi cộng sản đòi Hoa Kỳ và Ðồng Minh
rời Việt Nam vô điều kiện; (2) VNCH đề nghị một chương trình hòa giải dân tộc,
cộng sản thì muốn một hiến pháp mới và một chánh phủ liên hiệp (một chính phủ
bất lợi cho VNCH); (3) Hai bên đều muốn có sự kiểm soát của quốc tế. Nhưng cộng
sản muốn quốc tế kiểm soát Hoa Kỳ và Ðồng Minh rút quân, VNCH muốn sự hiện diện
của quốc tế như một đảm bảo cộng sản sẽ không tiếp tục gây hấn. Sự khác biệt
giữa hai giải pháp hòa bình làm cho hội ngưng trệ đến những tháng đầu năm 1970.
Ðể thể hiện thêm thiện chí trong cuộc hòa đàm, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ rút 25 ngàn
quân khỏi Việt Nam vào cuối tháng 8, 1970, và sẽ thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa
ngay 4. Cộng sản trả đũa lập tức, tuyên bố sự thành hình của một Chánh Phủ Cách
Mạng Lâm Thời từ ngày 10 tháng 6, 1969.
Trong khi cuộc hội đàm kéo dài và không đi đến đâu, ở Mỹ, sinh viên và hội đoàn
tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh vào những tháng cuối của năm
1969. Trong khi đó, đối diện với những gia tăng hoạt động quân sự của cộng sản,
Hoa Kỳ và VNCH mở một cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt vào ngày 29 tháng 4, 1970.
Từ trước đến giờ, các căn cứ của cộng sản nằm trên đất Cam Bốt được coi là bất
khả xâm phạm. Trong cuộc hành quân này, vô số vũ khí, quân trang và quân dụng
của cộng sản bị tịch thu hay phá hủy. Tuy cộng sản đang ra mặt thương lượng,
nhưng họ tiếp tục xâm nhập người và vũ khí vào Nam. Vào ngày 8 tháng 2, 1971,
quân đội VNCH mở cuộc tấn công vào Hạ Lào với mục đích phá hủy các căn cứ hậu
cần và binh trạm của cộng sản thiết lập dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc tấn
công qua Hạ Lào chỉ thành công một phần, vì thời tiết bất lợi và khả năng không
vận bị giới hạn. Trong khi đó, ở bàn hội nghị, cộng sản vẫn không chịu nhân
nhượng với đề nghị của họ. Ðại sứ David K.E. Bruce, trưởng đoàn hòa đàm, tuyên
bố là trong hai năm qua cộng sản chỉ dùng bàn hội nghị để tuyên truyền chứ không
thật sự muốn tìm một giải pháp hòa bình. Ðại sứ Phạm Ðăng Lâm phía VNCH cũng báo
cáo về Sài Gòn tương tự.
Quân đội Hoa Kỳ tiếp tục rời Việt Nam theo chương trình giảm quân trong kế hoạch
Việt Nam hóa như đã định. Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) và Bộ Tư Lệnh Quân Viện Hoa Kỳ
(MACV) hợp tác chặt chẽ để đạt được mục tiêu chính trị của kế hoạch. Trong năm
1971, cộng quân tiếp tục pháo kích vào thành phố và tấn công qua khu phi quân
sự. Ðể trả đũa, Hoa Kỳ oanh kích trở lại các mục tiêu quân sự ở miền Bắc. Nhưng
chiến dịch giội bom không làm cuộc hòa đàm ở Ba Lê tiến triển thêm. Cuộc giội
bom của Hoa Kỳ cũng không ngăn được Bắc Việt xâm nhập và tích tụ nhiều lực lượng
mạnh để chuẩn bị một cuộc tấn công quy mô bắt đầu vào ngày 30 tháng 3, 1972 (5).
Một tháng sau, cuộc hòa đàm ở Ba Lê được đình hoãn.
Cuộc hòa đàm “cởi mở” ở Ba Lê là như vậy. Tình trạng chúng ta đối diện ở Ba Lê
giống như cuộc hòa đàm giữa Hoa Kỳ và Bắc Hàn gần hai mươi năm về trước. Trong
hai hội nghị, cộng sản dùng giống một chiến thuật “vừa đánh vừa đàm” để đạt được
mục tiêu tương tự. Cho đến lúc Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng
thống Nixon, trực tiếp tham dự thương thuyết - bằng nhiều cuộc gặp gỡ bí mật với
phía bên kia - thì cuộc hòa đàm mới chuyển hướng. Ðối với Kissinger, cuộc chiến
Việt Nam đã kéo dài quá lâu. Hai bên không thể nào chấp nhận những quan điểm
khác biệt để có thể cùng bỏ súng và tin tưởng nhau, để đi đến một sự hòa hợp.
Mỗi bên đều nghi ngờ đối phương luôn giấu một lá bài tẩy trong tay và sẽ sử dụng
để lừa bên kia. Kissinger suy luận, cách duy nhất để gây được lòng tin với nhau
là những liên lạc riêng. Kissinger là người thấy được giá trị của kẻ trung gian
trong các cuộc thương nghị. Tuy không phải là một chuyên viên về vấn đề Ðông Nam
Á lúc bấy giờ, nhưng Kissinger đã từng được tổng thống Johnson ủy nhiệm việc
liên lạc bí mật đầu tiên với đại diện ngoại giao của Bắc Việt là Mai Văn Bộ qua
trung gian của hai người Pháp mà Kissinger quen biết (6).
Khi Nixon trở thành tổng thống, Kissinger, nay đã thành cố vấn an ninh quốc gia,
thuyết phục Nixon cho ông ta tiếp tục đường lối ngoại giao bí mật. Ðược sự ưng
thuận của Nixon, Kissinger và Xuân Thủy gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 8, 1969,
ở tư gia của Jean Sainteny ở Ba Lê. Sau đó, từ tháng 2 cho đến tháng 4, 1970,
Kissinger và Lê Ðức Thọ bí mật gặp nhau bốn lần, nhưng không đem lại một tiến
triển nào (7). Trong lần nói chuyện vào tháng 9, 1970, Kissinger đề nghị Hoa Kỳ
không còn đòi hỏi một cuộc rút quân song phương. Thay vào đó, Kissinger đề nghị
một giải pháp đình chiến tại chỗ. Phía cộng sản thì muốn Hoa Kỳ ngưng trợ giúp
VNCH và thay chánh phủ đó bằng một chánh phủ liên hiệp như những điều kiện tiên
quyết cho giải pháp hòa bình. Nói như vậy là Hoa Kỳ phải đứng vào vị trí phải
bảo đảm cho những hoạt động của cộng sản ở miền Nam để được rút quân ra khỏi
cuộc chiến trong danh dự. Hoa Kỳ đã nhân nhượng nhiều trong những lần thương
nghị, nhưng đối với nhiều đòi hỏi vô lý của Bắc Việt, cuộc nói chuyện bí mật
giữa hai bên bị bế tắc.
Sau hai trận hành quân đánh qua Cam Bốt và Hạ Lào, Hoa Kỳ tiếp tục nhượng bộ
cộng sản với một đề nghị mới gồm hai điểm: (1) Hoa Kỳ sẽ rút quân sáu tháng sau
ngày hai bên đồng ý đi đến một thỏa hiệp. (2) Tổng thống Thiệu sẽ từ chức một
tháng trước ngày có cuộc tổng tuyển cử. Bắc Việt từ chối đề nghị đó trong lần
nói chuyện vào ngày 3 tháng 5, 1971. Trong năm lần gặp tiếp theo vào tháng 6, 7
và 8, tất cả các đề nghị mới của Hoa Kỳ đều bị từ chối, dù Hoa Kỳ cố gắng thay
đổi theo ý muốn của cộng sản. Ðến lần nói chuyện vào tháng 9 thì Hoa Kỳ mới hiểu
ý định thật sự của cộng sản: Họ muốn Hoa Kỳ trao miền Nam cho họ trước khi Hoa
Kỳ rút quân. Phải cần đến ba năm dài thương lượng Hoa Kỳ mới thấy được ý đồ của
cộng sản! Cũng trong lần nói chuyện đó, cộng sản nhận thấy Hoa Kỳ muốn cố gắng
tìm một giải pháp để chấm dứt chiến tranh, chứ không chỉ tìm một hiệp định chấm
dứt chiến tranh như một che đậy cho sự đầu hàng (8).
Ngày 20 tháng 3 năm 1972 Hoa Kỳ đề nghị hai bên tiếp tục thương thuyết lại. Bắc
Việt đồng ý, nhưng sau đó xin đình hoãn đến ngày 15 tháng 4. Hoa Kỳ lại đề nghị
ngày họp mới là 24 tháng 4. Chưa nhận được trả lời từ phía cộng sản thì ngày 31
tháng 3, 1972, cộng sản tấn công qui mô trên toàn lãnh thổ VNCH. Theo tôi nghĩ,
qua sự che giấu khéo léo, cộng sản đã giữ được bí mật ngày giờ của cuộc tấn
công, dù họ đã hoạch định và chuẩn bị cuộc tấn công ngay sau lần nói chuyện cuối
cùng của năm 1971.
Tình hình quân sự ở miền Nam vào tháng 4 năm 1972 nguy ngập đến độ Hoa Kỳ lo sợ
VNCH có thể thất thủ. Ngày 2 tháng 5, Lê Ðức Thọ và Kissinger trở lại bàn hội
nghị. Ðối diện với những diễn tiến quân sự không được khả quan ở miền Nam, Hoa
Kỳ đề nghị nếu Bắc Việt ngưng tấn công, đình chiến, và trao trả tù binh Hoa Kỳ –
chỉ cần trao trả tù binh mà thôi – Hoa Kỳ sẽ rút quân trong vòng bốn tháng. Lê
Ðức Thọ lập tức bác bỏ đề nghị đó, và quyết liệt muốn Hoa Kỳ thay chính phủ VNCH
bằng một chính phủ liên hiệp. Với những đòi hỏi vô lý như vậy, Hoa Kỳ cho Bắc
Việt biết đề nghị của họ không thể nào được chấp nhận. Sau đó Hoa Kỳ gia tăng
cường độ oanh tạc miền Bắc và phong tỏa hải cảng Hải Phòng và các thủy đạo quan
trọng của Bắc Việt. Qua sự can thiệp của Nga và Trung Cộng, hai bên trở lại
thương lượng với nhau vào những ngày 1, 14 và 19 tháng 8, 1972. Trong những lần
hội đàm đó, tuy cộng sản vẫn muốn thấy Hoa Kỳ ép tổng thống Thiệu từ chức trước
khi nói đến chuyện ngưng bắn, thái độ của họ trở nên hòa hoãn hơn. Họ công nhận
Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội và một thực thể chính trị thứ ba: Chính
Phủ Cách Mạng Lâm Thời của cộng sản ở miền Nam được coi như ngang hành như chính
phủ VNCH.
Sửa soạn ngưng bắn
Tiến sĩ Kissinger đến Sài Gòn gặp tổng thống Thiệu ngày 16 tháng 8, 1972.
Kissinger nói cho tổng thống Thiệu về những áp lực chính trị ở nội địa Hoa Kỳ,
và những áp lực này có thể ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống như thế nào.
Kissinger đồng thời lập lại sự cương quyết của tổng thống Nixon đi tìm một giải
pháp hòa bình cho chiến tranh Việt Nam. Ngày 11 tháng 9, 1972, Kissinger và Lê
Ðức Thọ gặp lại ở Ba Lê. Nhưng trong cuộc họp lần này tất cả sự thỏa thuận đã có
từ những lần trước được viết ra thành văn kiện. Sự thỏa thuận, nói một cách tổng
quát là: Vì Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội, và nhiều lực lượng chính
trị khác, nên nếu đi đến một chính phủ hòa hợp hòa giải thì điều này phải được
thực hiện bằng một giải pháp hòa bình, và hai bên tránh tìm cách triệt hạ nhau.
VNCH sẽ không bị cưỡng ép theo một chế độ thân cộng hay thân Mỹ. Như vậy, lần
đầu tiên trong cuộc hòa đàm, cộng sản bỏ ý định yêu cầu Hoa Kỳ thay thế chính
phủ VNCH bằng một chính phủ thân cộng (9).
Lần gặp vào ngày 26 tháng 9, Bắc Việt thêm vào bản thỏa hiệp một Hội Ðồng Hòa
Hợp Hòa Giải Quốc Gia. Với nhiều tiến triển khả quan xảy ra cho cuộc hòa đàm,
mọi người hi vọng hòa bình sẽ được thực hiện trong những ngày sắp đến. Ngày 8
tháng 10, 1972, Kissinger trở lại thương lượng tiếp. Ðó là lần thứ 19 Kissinger
băng qua Ðại Tây Dương để hội đàm với Lê Ðức Thọ. Bắc Việt và Hoa Kỳ thỏa thuận
với nhau qua một bản dự thảo bằng Anh ngữ, trong đó Bắc Việt đồng ý coi vấn đề
chính trị và quân sự là hai vấn đề khác nhau và phải được giải quyết riêng rẽ;
Hai bên đồng ý ngưng bắn tại chỗ; Và vấn đề chính trị của miền Nam sẽ được giải
quyết bởi hai miền. Như vậy, bản dự thảo kết thúc một cuộc đối thoại dài mấy năm
trời của hai người điếc (10). Tuy nhiên bản dự thảo còn nhiều chi tiết cần được
bổ túc thêm. Sơ thảo của bản hiệp định giữa Kissinger và Lê Ðức Thọ bao gồm chín
điểm:
1. Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ và độc lập của Việt Nam.
2. Cuộc ngưng bắn sẽ được thực hiện hai mươi bốn giờ sau khi hiệp định có hiệu
lực. Quân đội Hoa Kỳ sẽ rút khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày.
3. Tất cả tù binh sẽ được trao trả trong vòng 60 ngày.
4. Thành lập một cơ cấu hành chánh gọi là Hội Ðồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia,
gồm ba thành phần, để tổ chức cuộc bầu cử.
5. Sự thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng giai đoạn qua phương cách hòa
hợp.
6. Một Ủy Ban Kiểm Soát và Giám Sát Quốc Tế sẽ được thiết lập.
7. Tổ chức một hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày để bảo đảm hòa bình ở Việt
Nam.
8. Tất cả các lực lượng hứa sẽ tôn trọng độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của Lào
và Cam Bốt.
9. Hoa Kỳ sẽ góp phần vào công cuộc tái thiết hậu chiến ở miền Bắc và Ðông
Dương.
Ðược sự khuyến khích của tổng thống Nixon, Kissinger gặp lại Lê Ðức Thọ hai ngày
9 và 10 tháng 10, mỗi ngày 16 tiếng để tiếp tục thương lượng. Một số dị biệt của
hai phía được giải quyết, và cả hai đi đến một thời khóa biểu thực thi hiệp
định: Hoa Kỳ ngừng oanh tạc và ngừng thả mìn phong tỏa Bắc Việt vào ngày 18; Sau
khi được tổng thống Thiệu chấp nhận, Hoa Kỳ và Bắc Việt sẽ ký bản thỏa hiệp ngày
hôm sau, 19 tháng 10, 1972.
Bản hiệp định chính thức sẽ được bốn bên: VNCH, Bắc Việt, Chánh Phủ Cách Mạng
Lâm Thời và Hoa Kỳ ký tại Ba Lê vào ngày 26 tháng 10, 1972. Và cuộc ngưng bắn sẽ
được thi hành vào ngày 27 tháng 10.
Mọi việc tiến triển tốt đẹp. Hai bên muốn thấy cuộc ngưng bắn xảy ra trước ngày
bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Bắc Việt sốt sắng hơn, vì họ nghĩ tổng thống Nixon sẽ
không nhân nhượng nhiều sau khi được tái đắc cử. Tin tức của cuộc mật đàm giữa
Lê Ðức Thọ và Kissinger được chuyển đến đại diện của VNCH theo thường lệ. Tuy
nhiên đại diện VNCH không biết gì về nội dung của bản hiệp định đang được trao
đổi qua lại giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, hay là thời khóa biểu thực thi hiệp định
đó. Tiến sĩ Kissinger tin tưởng ông có thể thuyết phục chính phủ VNCH chấp nhận
hiệp định ông thương lượng với Bắc Việt. Nhưng một bất ngờ xảy ra làm đình hoãn
lịch trình của bản hiệp định: Ngày 11 tháng 10, tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội bị
thiệt hại trong cuộc giội bom của Hoa Kỳ. Ðại sứ Pháp, Pierre Susini bị thương
nặng. Khi Lê Ðức Thọ phản đối với Kissinger, Hoa Kỳ đã ngừng oanh tạc (11). Hai
bên soạn lại một thời khóa biểu mới: Ngày 21 ngừng giội bom; ngày 22 ký bản hiệp
định sơ thảo tại Hà Nội; và ngày 30 tháng 10 là ngày chánh thức ký bản hiệp định
tại Ba Lê.
Ngày 16 tháng 10, 1972, Kissinger trở lại Ba Lê gặp Xuân Thủy, trong khi Lê Ðức
Thọ trên đường về Hà Nội. Lần đi họp này Kissinger đem theo hai khuôn mặt mới,
William Sullivan và George Alrich (12). Gặp nhau, hai bên ngồi lại duyệt xét bản
hiệp định từng câu, từng chữ. Có hai phần trong bản hiệp định gây ra vấn đề bàn
cãi sôi nổi giữa hai phía. Vấn đề thứ nhất là việc thay thế các quân dụng, chiến
cụ bị hư hay mất. Về điểm này, cộng sản Bắc Việt chỉ muốn có một kiểm soát lấy
lệ khi vũ khí và quân cụ được thay thế; trong khi Hoa Kỳ muốn thấy một sự kiểm
soát chặt chẽ. Vấn đề thứ hai là phóng thích tù nhân chính trị: Bắc Việt muốn tù
binh Hoa Kỳ và tù nhân cộng sản phải được phóng thích/ trao trả cùng lúc. Cuộc
hội đàm bị bế tắc thêm lần nữa khi Hoa Kỳ không chấp nhận đòi hỏi của phía bên
kia. Lo sợ sẽ trễ với chương trình nằm trong thời khóa biểu đã định sẵn,
Kissinger rời Ba Lê đi Sài Gòn để gặp tổng thống Thiệu.
Tác giả nhớ rõ, Kissinger đến Sài Gòn ngày 18 tháng 10, với ý định ở lại hai
ngày hội họp. Sáng hôm sau, phái đoàn Hoa Kỳ gồm Kissinger, đại sứ Ellsworth
Bunker, đại tướng Creighton W. Abrams và William Sullivan đến họp ở dinh Ðộc
Lập. Phía bên VNCH gồm có tổng thống Thiệu, phó tổng thống Trần Văn Hương, thủ
tướng Trần Thiện Khiêm, Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm, ông Nguyễn Phú Ðức, Hoàng Ðức
Nhã, và tác giả.
Kissinger trao tổng thống Thiệu bản sơ thảo viết bằng Anh ngữ của hiệp định để
bắt đầu buổi họp. Tiếp theo Kissinger nói đến những ưu điểm ông ta nghĩ có lợi
cho VNCH. Kissinger nhấn mạnh, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giữ các căn cứ không quân ở
Thái Lan, và hạm đội ngoài khơi Việt Nam để ngăn chặn các cuộc xâm lăng của cộng
sản. Viện trợ kinh tế và quân sự vẫn tiếp tục cho VNCH, trong khi - qua những
thương lượng bí mật - viện trợ của Nga và Trung Cộng cho Bắc Việt sẽ giảm lần,
để Hoa Kỳ có thể rút quân và đem được tù binh trở về trong danh dự. Ký hiệp định
với cộng sản trong lúc này, theo Kissinger, có lợi cho VNCH. VNCH đang có trên
một triệu quân và đang giữ 85 phần trăm của tổng số 19 triệu dân. Kissinger tin
tưởng miền Nam sẽ phát triển và thịnh vượng trong thời hậu chiến. Tóm lại,
Kissinger kết luận, bản hiệp định có lợi và chấp nhận được. Tuy nhiên Kissinger
không nói đến chi tiết của những vấn đề vẫn còn đang bàn cãi. Quan trọng nhất là
thời khóa biểu thực thi hiệp định. Tổng thống Thiệu trả lời cho Kissinger là ông
sẽ nghiên cứu bản hiệp định. Nội dung bản hiệp định được trao cho Hoàng Ðức Nhã,
cố vấn đặc biệt của tổng thống Thiệu, nghiên cứu.
Một cuộc họp đặc biệt của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia được triệu tập để nghiên cứu
và thảo luận về bản hiệp định. Ông Hoàng Ðức Nhã là thuyết trình viên của buổi
họp. Về phương diện quân sự đây là một cuộc ngưng bắn tại chỗ: trong khi quân
đội Hoa Kỳ và đồng minh sẽ rút đi; các căn cứ quân sự bị tháo gỡ, nhưng bản hiệp
định không nói gì đến việc giảm thiểu khả năng quân sự của Bắc Việt. (Theo ước
lượng, Bắc Việt có 10 sư đoàn ở miền Nam. Thêm vào đó các đơn vị cộng sản địa
phương có đến 60 phần trăm quân chính quy Bắc Việt).
Với tư cách Tổng Tham Mưu Trưởng tôi phát biểu ý kiến trong buổi họp Hội Ðồng An
Ninh Quốc Gia. Ý kiến của tôi là rất khó kiểm soát vấn đề ngưng bắn; ngưng bắn
tại chỗ kiểu “da beo” có nhiều nguy hiểm. Lối ngưng bắn này không có nơi tụ quân
riêng và không có giới tuyến phân biệt đôi bên. Trong tình trạng này, lực lượng
địch được quyền đóng quân nơi họ đang có mặt, nhưng dĩ nhiên cộng sản sẽ không
đứng yên một nơi. Với bản tính xâm lăng tự tại đã có từ lâu, họ sẽ phân tán ra
từng đơn vị nhỏ, xâm nhập vào làng xã và cứ điểm đồn trú của quân ta, và họ sẽ
đánh dấu sự hiện diện của họ bằng cách treo cờ cộng sản. Như vậy, Ủy Ban Kiểm
Soát và Giám Sát Quốc Tế không có ý nghĩa vì chúng ta đã có đủ chứng cớ để thấy
đây là một tổ chức nằm dưới ảnh hưởng của cộng sản từ lâu. Trong chiến tranh bất
quy ước, sự kiểm soát dân và đất rất khó khăn vì không có ranh giới rõ giữa ta
và địch – trường hợp ngưng bắn đang đề nghị lại càng khó khăn hơn gấp bội. Lối
ngưng bắn kiểu như vậy được dân miền Nam giễu với nhau qua câu: “Trước đây chúng
ta vào rừng săn thú dữ. Bây giờ chúng ta phải đem con thú dữ đó về ở chung nhà”.
Ðó chỉ là một cách nói đùa, nhưng câu nói cho thấy tâm lý của người dân khi phải
đối diện với cộng sản.
Việt Nam Cộng Hòa biết chắc chắn cộng sản sẽ không thi hành cuộc ngưng bắn tại
chỗ. Kinh nghiệm về hành vi của cộng sản sau năm 1954 cho ta biết rõ cộng sản sẽ
làm gì trong lần đình chiến này. Thêm vào đó, tài liệu chúng ta tịch thu được từ
một chính ủy tỉnh Quảng Tín vào ngày 10 tháng 10, 1972, cho thấy cán bộ các cấp
cộng sản đã được chỉ thị học tập văn kiện hiệp định để chuẩn bị hành động 13.
Tài liệu nói trên được tổng thống Thiệu trao cho Kissinger. Ðưa cho Kissinger
đọc tài liệu, ý tổng thống Thiệu muốn Kissinger thấy khi VNCH nhận được bản sơ
thảo của hiệp định vào ngày 18, thì phía cộng sản đã phân phối tài liệu đó xuống
đến tất cả cán bộ các cấp để học tập và chuẩn bị phản ứng. Cùng thời gian đó,
tin tình báo của chúng ta ở Tây Ninh báo cáo cho thẩm quyền quân sự VNCH và Hoa
Kỳ biết cộng sản đã có một khóa học tập đặc biệt về bản sơ thảo hiệp định tại bộ
chỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam.
Một vấn đề quân sự quan trọng nhất là sự hiện diện của quân đội cộng sản ở miền
Nam. Cán cân quân sự hai bên ngang nhau vào tháng 9 năm 1972. Nhưng khi tất cả
quân đội Hoa Kỳ rút đi rồi, nếu cộng sản vẫn còn quân ở miền Nam, thì cán cân
quân sự chắc chắn sẽ nghiêng về phía địch.
Về phương diện chính trị, Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia chú ý đến đề nghị thành lập
một Hội Ðồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia. Lực lượng chính trị thứ ba này đưa đến
nhiều tranh luận và nghi vấn. Nếu hội đồng này có thể tổ chức một cuộc bầu cử
trong tương lai, thì nền tảng của Hội Ðồng đó là gì? Nếu Hội Ðồng được thành
hình, thì chính quyền đang hiện hữu của VNCH sẽ ra sao, và sẽ hoạt động như thế
nào? Ðó là những điểm cần phải được giải thích – và trên hết, phải được quyết
định trên ý nghĩa của bản văn viết bằng tiếng Việt. Trong cuộc họp tiếp theo
tổng thống Thiệu hỏi Kissinger về những vấn đề đó. Hai mươi bốn giờ sau,
Kissinger trao cho VNCH bản hiệp định soạn thảo bằng tiếng Việt.
Khi phân tách hiệp định sơ thảo bằng tiếng Việt, Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia biết
ra đây là bản văn do cộng sản Bắc Việt soạn chớ không phải bản dịch ra từ bản
văn Anh ngữ. Văn phong của bản hiệp định sơ thảo chứa đầy ngôn ngữ cộng sản kiểu
Bắc Việt. Bản văn có nhiều từ ngữ đặc thù, với ý nghĩa gây nhiều tranh luận. Thí
dụ, danh xưng của quân đội Hoa Kỳ dùng đúng, nhưng trong một ý nghĩa miệt thị:
Quân Mỹ. Phía VNCH nhắc phái đoàn Hoa Kỳ nên yêu cầu sửa lại thành Quân Ðội Hoa
Kỳ cho nghe được lịch sự hơn. Một người dân có trình độ ở miền Nam đồng ý chữ
Quân Mỹ không phải là sai trong ngôn từ, nhưng đó là một lối gọi bất lịch sự và
miệt thị.
Một vấn đề quan trọng khác, liên hệ đến ý nghĩa của từ ngữ, khi nói về cơ cấu
Hội Ðồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia. Ðịnh nghĩa của cơ cấu này, trong bản tiếng
Anh viết là “administrative structure”. Khi chuyển sang tiếng Việt từ đó trở
thành cơ cấu chính quyền – đây là lối chuyển ngữ đầy ẩn ý và nguy hại về sau.
Ðối với Bắc Việt, một cơ cấu chính quyền như Hội Ðồng Hòa Hợp Hòa Giải có đầy đủ
thẩm quyền như một chính phủ. Và với một tập hợp của ba lực lượng chính trị, cơ
cấu đó không khác gì hơn là một chính phủ liên hiệp. Có phải đây là ý định thật
sự của hiệp định không? Bản hiệp định bằng tiếng Việt đồng thời nói đến ba quốc
gia Việt Nam: Bắc và Nam Việt Nam là hai quốc gia; quốc gia thứ ba ở đâu? Nếu
miền Nam có hai quốc gia, vậy thì chủ quyền của VNCH phải chia với một lực lượng
khác. Ðó là những điểm trở ngại quan trọng trong bản sơ thảo hiệp định.
Sau khi duyệt xét kỹ càng, chính phủ VNCH đưa ra 26 điểm cần được thay đổi trong
bản sơ thảo (14). Trong khi cuộc hội thảo giữa VNCH và Hoa Kỳ đang diễn ra, tòa
đại sứ VNCH ở Hoa Thịnh Ðốn báo cáo về Sài Gòn là, trong một cuộc phỏng vấn với
báo chí ngoại quốc, thủ tướng Phạm Văn Ðồng tuyên bố hòa đàm ở Ba Lê đang tiến
triển với nhiều kết quả tốt đẹp, và chánh phủ lâm thời trong tương lai sẽ là một
chánh phủ liên hiệp của ba thành phần. Báo cáo từ Hoa Thịnh Ðốn tăng thêm sự
hoài nghi về một sự lừa dối: ai đang lừa ai, và ai là kẻ bị lừa. Ðây là một lý
do nữa để tổng thống Thiệu chống lại hiệp định mạnh hơn khi VNCH và Hoa Kỳ thảo
luận trở lại vào ngày 22 tháng 10. Ðêm đó, tổng thống Thiệu viết cho tổng thống
Nixon một bức thư, trao qua tay Kissinger. Lá thư đề cập đến những khiếm khuyết
của bản hiệp định, và lý do tại sao VNCH không thể nào chấp nhận bản hiệp định
đó.
Với những phỏng đoán về sự chấp nhận và ký kết bản sơ thảo hiệp định bị lỡ dở,
Kissinger đánh điện tín cho Lê Ðức Thọ, nói là lịch trình ký kết bản hiệp định
quá cấp bách để Hoa Kỳ có thể ký hiệp định vào ngày 31 tháng 10 như đã định.
Cùng lúc, Kissinger thông báo cho Bắc Việt biết Hoa Kỳ sẽ ngưng mọi oanh tạc từ
vĩ tuyến thứ 20 trở lên vào ngày 25 tháng 10.
Về phần tổng thống Thiệu, ông lên đài truyền thanh và truyền hình thông báo cho
toàn quốc biết VNCH không thể chấp nhận một chính phủ liên hiệp. Cùng lúc, Bắc
Việt không đứng yên: Họ tung ra quả bom tuyên truyền. Bắc Việt đưa ra công chúng
nội dung của bản hiệp định sơ thảo, lịch trình ký kết hiệp định, và lên án tổng
thống Thiệu là người phá hoại hòa bình. Bắc Việt đòi hỏi Hoa Kỳ ký hiệp định vào
ngày 31 tháng 10, 1972 như đã hứa theo lịch trình. Ðối diện với những biến
chuyển mới, Kissinger mở cuộc họp báo để giải thích nội dung của bản hiệp định.
Kissinger tuyên bố “Hòa bình đang trong tầm tay”, và chỉ cần họp mặt với Bắc
Việt một lần nữa thì hòa đàm Ba Lê sẽ kết thúc.
Trong tháng 11, nhiều cuộc trao đổi qua lại giữa Hoa Thịnh Ðốn và Sài Gòn, nhưng
nội dung của bản hiệp định vẫn không thay đổi. Trong tháng 11, qua chương trình
quân viện có tên là ENHANCE PLUS, Hoa Kỳ viện trợ cho VNCH một số lượng quân cụ,
chiến cụ quan trọng. Vận tải cơ C-5 Galaxy và vận tải hạm đem đến Việt Nam chiến
đấu cơ A-37, F-5, xe tank M-48, vận tải cơ C-130, trực thăng, và đại pháo 175 ly
15. Cộng thêm vào số chiến cụ, Hoa Kỳ chuyển lại cho quân đội VNCH tất cả các
căn cứ và đồ trang bị ở các nơi đồn trú. Với số quân viện đó, Bộ Tổng Tham Mưu
lập thêm các đơn vị pháo binh nặng, phòng không và thiết giáp. Những phi đoàn
không quân C-130A và F-5A cũng được thành lập. Tuy nhiên một số chiến cụ chưa
dùng ngay được. Ðây là số chiến cụ dùng để thay thế chiến cụ cũ hay bị hư trong
tương lai theo những quy ước ghi trong hiệp định. Chương trình quân viện quy mô
và cấp tốc ENHANCE PLUS này có hai mục đích: về quân sự, chương trình gia tăng
khả năng và sức mạnh của quân đội ta; về chính trị, Hoa Kỳ muốn chứng tỏ họ là
một đồng minh tin tưởng được, để hy vọng chính phủ VNCH dung hòa hơn trong
chuyện chấp nhận bản hiệp định.
Phải đồng ý tổng thống Nixon đã thật sự quan tâm đến những dị biệt trong bản
hiệp định do chúng ta đưa ra. Nixon ra lệnh duyệt xét lại các điểm bất đồng ý
kiến. Các điểm cần xét lại gồm có:
Các điểm quan trọng: (a) Vùng Phi Quân Sự phải được coi như biên giới giữa Bắc
và Nam Việt Nam, như Hiệp Ðịnh Geneva phân định từ trước. (b) Phải có một cuộc
rút quân tượng trưng từ phía Bắc Việt (có thể 25 ngàn quân), và ngược lại, VNCH
sẽ giảm một số quân tương đương. (c) Cuộc ngưng bắn phải được áp dụng cho toàn
thể Ðông Dương. (d) Lực lượng quốc tế kiểm soát đình chiến phải mạnh và sẵn sàng
làm việc khi hiệp định có hiệu lực.
Các điểm không quan trọng: (a) Hai bản Anh và Việt ngữ của hiệp định phải được
sửa lại để cùng có ý nghĩa như nhau, để ý nghĩa về cơ cấu của Hội Ðồng Hòa Hợp
Hòa Giải Quốc Gia không bị hiểu lầm. (c) Bản hiệp định phải được bốn bên chánh
thức ký nhận.
Ngày 9 tháng 11, 1972, chuẩn tướng Alexander Haig, Jr. đến Sài Gòn. Haig trao
cho tổng thống Thiệu một bức thư của tổng thống Nixon, và nhấn mạnh tính chất
quan trọng của chương trình quân viện ENHANCED PLUS. Nhưng khi thấy chính phủ
VNCH giữ vững lập trường, không chấp nhận hiệp định, tướng Haig cho biết chính
phủ Hoa Kỳ có thể ký hiệp định đó đơn độc với Bắc Việt. Vài ngày trước, ngày 5
tháng 11, các quốc gia Gia Nã Ðại, Hung Gia Lợi, Nam Dương và Ba Lan đồng ý trên
căn bản là họ sẽ dự phần vào Ủy Ban Kiểm Soát và Giám Sát Quốc Tế.
Ngày 20 tháng 11, Lê Ðức Thọ và Kissinger họp mặt lại. Lê Ðức Thọ xuất hiện
trước, tuyên bố với báo chí là Bắc Việt nghi ngờ sự thành thật của Hoa Kỳ. Tuy
không nói trắng ra, nhưng Lê Ðức Thọ muốn nói đến chương trình viện trợ ENHANCED
PLUS, và chuyện Hoa Kỳ đã không ký hiệp định vào ngày 31 tháng 10 theo lịch
trình đã định. Khi gặp nhau, Kissinger đưa ra những đòi hỏi của phía VNCH và Hoa
Kỳ. Không khí hai ngày thương lượng đầu tiên cởi mở trong sự trao đổi. Nhưng bất
ngờ Lê Ðức Thọ trở nên cứng rắn với những đề nghị từ ngày 23 tháng 11. Lê Ðức
Thọ gạt hết tất cả đề nghị của Hoa Kỳ và đòi Hoa Kỳ thay chính phủ VNCH. Có lẽ
đây là chỉ thị mới từ Hà Nội. Kissinger rất ngạc nhiên về thái độ trở mặt này
của Lê Ðức Thọ. Kissinger yêu cầu Lê Ðức Thọ cho biết lý do, nhưng sự giải thích
từ phía bên kia không làm hài lòng lắm. Kissinger nhấn mạnh đến sự thiện chí
trong cuộc hòa đàm Hoa Kỳ ngưng oanh tạc từ vĩ tuyến 20 trở lên; nhưng Lê Ðức
Thọ trả lời là Hoa Kỳ đã đòi hỏi thêm nhiều điều kiện mới. Bị bế tắc, hai bên
ngưng nói chuyện với nhau vào ngày 25 tháng 11, nhưng đồng ý gặp lại vào đầu
tháng 12 (16). Ngay trong thời điểm này, đặc sứ VNCH Nguyễn Phú Ðức đến Hoa
Thịnh Ðốn để trao cho tổng thống Nixon một lá thư từ tổng thống Thiệu. Lá thư
giải thích vị trí của VNCH đối với hiệp định Ba Lê.
Ngày 4 tháng 12, Kissinger và Lê Ðức Thọ gặp lại nhau. Lần này thái độ của Thọ
giống như lần họp vừa qua; thái độ được cởi mở hơn một chút trong những buổi họp
sau, nhưng cuộc nói chuyện không có một tiến triển nào. Hai bên bàn cãi trở lại
những vấn đề tưởng đã được giải quyết rồi. Ngày 13 tháng 12, Kissinger rời Ba Lê
nhưng các phụ tá của ông ở lại để thương lượng những dị biệt với Bắc Việt. Sự bế
tắc lần này thật và có điềm không tốt (17).
Sau khi họp và duyệt lại những chi tiết của cuộc hòa đàm với Kissinger ở Hoa
Thịnh Ðốn, tổng thống Nixon gởi một điện tín cho Hà Nội, thông báo nếu Bắc Việt
không trở lại thương nghị một cách nghiêm chỉnh, Hoa Kỳ sẽ giội bom trở lại
trong vòng 72 tiếng. Khi không thấy Bắc Việt trả lời, Hoa Kỳ giội bom trở lại
trên toàn lãnh thổ của Bắc Việt. Không chịu nổi cuộc giội bom khủng khiếp - Hoa
Kỳ dùng cuộc giội bom như muốn nói ý định quyết liệt của mình trong vấn đề
thương lượng - Bắc Việt thương lượng trở lại. Theo ý tôi, Bắc Việt đã bị bắt
buộc trở lại bàn hội nghị. Hoa Kỳ ngưng cuộc giội bom khủng khiếp đó vào ngày 30
tháng 12 năm 1972.
Tám ngày sau, ngày 8 tháng 1, năm 1973, Kissinger gặp Lê Ðức Thọ. Lần nói chuyện
này khả quan hơn. Hai bên duyệt xét lại bản sơ thảo của hiệp định từng điểm một.
Vào ngày 14 tháng 1, Kissinger báo cáo với tổng thống Nixon về những tiến triển
khả quan của cuộc họp. Ngày hôm sau, Hoa Kỳ ra lệnh tất cả các đơn vị Hoa Kỳ
ngưng tấn công Bắc Việt.
Ngày 16 tháng 1, chuẩn tướng Haig đến Sài Gòn. Chính phủ VNCH vẫn còn đòi hỏi
sửa đổi một vài quy tắc trong bản hiệp định. Nhưng vào ngày 19 tháng 1, Hoa Kỳ
thông báo chính phủ VNCH bản hiệp định không còn thay đổi được nữa. Bản hiệp
định sẽ được thảo duyệt lần cuối vào ngày 23 tháng 1, và bốn bên sẽ chánh thức
ký vào ngày 27 tháng 1 tại Ba Lê. Hiệp định sẽ có hiệu lực vào lúc 8 giờ sáng,
ngày 28 tháng 1 năm 1973, giờ Sài Gòn. Ðược biết thêm, vào ngày 21 tháng 1, tổng
thống Nixon có gởi cho tổng thống Thiệu một lá thư, hăm dọa VNCH là nếu VNCH từ
chối hiệp định, Hoa Kỳ sẽ ký một mình, và khi chuyện đó xảy ra, Hoa Kỳ sẽ cắt
tất cả ngân khoản viện trợ. Nếu VNCH đồng ý ký bản hiệp định thì (1) tổng thống
Hoa Kỳ sẽ hết lòng can thiệp với quốc hội Hoa Kỳ để tiếp tục viện trợ cho VNCH
và (2) chính phủ Hoa Kỳ hứa sẽ phản ứng quyết liệt trong trường hợp cộng sản Bắc
Việt vi phạm hiệp định. Sau nhiều buổi họp với hội đồng an ninh quốc gia và thảo
luận với nhiều nhân vật có tiếng nói ở quốc hội và các cơ quan hành chánh, tổng
thống Thiệu viết cho tổng thống Nixon một lá thư đồng chấp nhận hiệp định Paris.
Trong thư tổng thống Thiệu đề nghị một cuộc họp mặt giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau
khi hiệp định Paris được ký kết.
Như những gì đã xảy ra ở hội nghị Bình Nhưỡng giữa Ðồng Minh và Bắc Hàn, trong
cuộc chiến tranh Ðại Hàn hai mươi năm về trước: cộng sản dùng bàn hội nghị như
là một nơi để tuyên truyền; trong khi tiếp tục kế hoạch của họ ở chiến trường.
Chiến thuật “đả đả, đàm đàm” là một chiến thuật vừa đánh vừa đàm cố hữu của cộng
sản. Khi đối đầu với cộng sản, kiên nhẫn và cương quyết trong các đòi hỏi là một
tất yếu. Phải sử dụng áp lực quân sự như một phương tiện để lấy được thế chính
trị. Nói một cách khách quan, Hiệp định Paris không hoàn hảo: Hoa Kỳ hoàn tất
rút quân ra khỏi Việt Nam và lấy lại tù binh. Cộng sản Bắc Việt giữ nguyên vị
trí đóng quân của họ; và VNCH vẫn tồn tại (hoạt động) như một quốc gia với một
chính phủ của mình (18-19).
Phản ứng của Việt Nam Cộng Hòa
Ðối diện với một hiệp ước bất tương xứng - một hiệp ước chỉ tương xứng và hoàn
hảo khi bên ta thắng và bắt phía kia đầu hàng - VNCH tìm một kế hoạch để sinh
tồn. Bây giờ phải có kế hoạch chính trị quân sự để đương đầu với một tình hình
mới. VNCH đoán được CSBV sẽ làm gì dựa vào những kinh nghiệm học được từ hiệp
định Geneve 1954, và từ tài liệu tịch thu của cộng sản, Bộ Tổng Tham Mưu khởi sự
một kế hoạch có mật hiệu là Trần Hưng Ðạo II. Kế hoạch đưa ra những dự trù cho
mọi hoàn cảnh khi cộng sản tấn công. Kế hoạch được dẫn giải cho tất cả các đơn
vị của quân lực. Nhờ kế hoạch Trần Hưng Ðạo II miền Nam không bị bất ngờ trong
những kế hoạch chống lại những âm mưu chiếm đất giành dân của cộng sản.
Về bình diện chính trị, chính phủ thực hiện một kế hoạch 5 năm nhắm vào phát
triển nông thôn. Một đảng chính trị có tên là Dân Chủ ra đời để chuẩn bị đối
chọi ảnh hưởng chính trị với cộng sản. Ða số cấp lãnh đạo đảng Dân Chủ là nhân
viên cao cấp của chính phủ VNCH. Ðến giữa năm 1973 một phần của cơ sở chính
quyền được tái phối trí. Ðể cơ động hóa và giải thích rõ ràng đường lối của
chính phủ, một kế hoạch khác được mệnh danh là cách mạng hành chánh được phát
động. Cho đến giữa năm 1973, mười lăm ngàn nhân viên các cấp hành chánh hoàn tất
cuộc huấn luyện 19.
ĐT Cao Văn Viên
CHÚ THÍCH:
(1) Lần đầu tiên trong cuộc chiến, Bộ Tổng Tham Mưu không còn quân tổng trừ bị
khi hai sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến hành quân ở Vùng I. Tình trạng trên
được cải thiện sau 1972 (Xem tiểu mục tổ chức quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở
Chương 4) (chú thích của tác giả)
(2) Theo Larry Berman trong No Peace, No Honor, trang 23, phái đoàn Hoa Kỳ và
Việt Nam Cộng Hòa đến Paris ngày 9 tháng 5, và nói chuyện với Bắc Việt lần đầu
vào ngày 13 tháng 5, 1968 (chú thích của dịch giả)
(3) Cùng ngày, tổng thống Thiệu đọc một diễn văn trước quốc hội nói đến lập
trường sáu điểm này. Ðọc Ðoàn Thêm, 1969: Việc Từng Ngày, trang 119.
(4) Trên thực tế Hoa Kỳ đã bắt đầu giảm thiểu số quân có mặt tại Việt Nam từ
tháng 7, 1969. Khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8, 1969, Hoa Kỳ “tái phối
trí” 25 ngàn quân. Xem Jeffrey Clarke, Advice and Support: the Final Years, Phụ
Bản C, trang 524 (chú thích của dịch giả)
(5) Bộ Tư Lệnh MACV biết điểm tụ quân và kế hoạch tấn công của Bắc Việt từ tháng
1, 1972. Ðại tướng Abrams và Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Ðô đốc Thomas
Moore, xin lệnh của Nixon và Henry Kissinger dùng B-52 phá hủy các điểm tập
trung quân và xe tăng của địch, nhưng bị từ chối ba lần. Nixon và Kissinger muốn
cho Bắc Việt tấn công trước rồi mới phản ứng. Ðọc Lewis Sorley, A Better War:
The Unexamined Victories and Final Tragedy of America's Last Years in Vietnam
(Harvest Books: New York, 1999), trang 307 - 321; Dale Andradé, Trial by Fire:
The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle (Hippocrene Books: New
York, 1995) trang 24 - 30; Philip B. Davison, Vietnam at War: The History 1946 -
1975 (Oxford University Press: Oxford, 1988) trang 669; Ngô Quang Trưởng, The
Easter Offensive of 1972 (Center of Military: Washington, D.C., 1980), trang 9 -
14. Hai tác giả Lewis Sorley và trung tướng Philip Davison là sĩ quan tình báo
cao cấp của CIA và MACV (chú thích của dịch giả)
(6) Tác giả Cao Văn Viên muốn nói đến hai trung gian người Pháp tên Hertbert
Marcovich và Raymond Aubrac, mà Kissinger nhờ đi Hà Nội để nhắn đề nghị của tổng
thống Johnson với Hồ Chí Minh vào cuối tháng 7, 1967. Marcovich là bạn của
Kissinger; Aubrac là bạn của Marcovich; Aubrac quen thân với Hồ Chí Minh từ năm
1946. Kissinger liên lạc với Aubrac qua Marcovich. Sau lần liên lạc ở Hà Nội,
tất cả các liên lạc về sau xảy ra ở Ba Lê giữa Mai Văn Bộ và Aubrac. Xem David
Kraslow và Stuart H. Loory, The Secret for Peace in Vietnam (Vintage Books: New
York 1968), trang 219 - 224. Cộng sản Việt Nam viết về những hội họp bí mật này
trong, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước hội
nghị Paris (Hà Nội: Quân Ðội Nhân Dân, 2000) (chú thích của dịch giả)
(7) Tất cả chi tiết về những lần nói chuyện bí mật giữa Henry A. Kissinger và Lê
Ðức Thọ được trích theo quyển Kissinger (Boston - Toronto: Little, Brown and
Co., 1974) của Bernard Kalb và Marvin Kalb (ghi chú của tác giả)
(8) Kissinger, trang 183 - 184 (ghi chú của tác giả)
(9) Trong lần mật đàm ngày 12 tháng 7, 1971, Lê Ðức Thọ năn nỉ Hoa Kỳ phải thay
chính phủ Nguyễn Văn Thiệu bằng một chính phủ khác trong kỳ bầu cử tháng 10 năm
1971. Có lúc Lê Ðức Thọ nhắn với Kissinger là “...có nhiều cách để thay Thiệu
nếu quý ông muốn hạ bệ hắn [Thiệu]”. Kissinger hiểu Lê Ðức Thọ muốn nói đến
chuyện ám sát. Xem Larry Berman, sách đã dẫn, trang 106 - 109; Trong The Palace
File của Nguyễn Tiến Hưng và Jerrol L. Schecter, trang 80 - 81 cũng có bàn đến
chuyện ám sát đó (chú thích của dịch giả)
(10) Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 354 (chú thích của tác giả)
(11) Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 359, 361 (chú thích của tác
giả)
(12) William H. Sullivan là phó trưởng đoàn Hoa Kỳ ở Hội Nghị Geneva về Lào năm
1962; đại sứ ở Lào từ năm 1964 đến 1969. George Alrich là phó thứ trưởng phòng
pháp lý Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Hai người này đến Ba Lê để duyệt lại những quy tắc
của bản hiệp định (chú thích của tác giả)
(13) Mười lăm giờ [ba giờ chiều] ngày 17 tháng 10 năm 1972, tổng thống Thiệu ra
lệnh đem tài liệu nói trên về Sài Gòn. Ba chuyến phi cơ L-19 thay phiên nhau đem
tài liệu về đến Sài Gòn lúc nửa đêm. Sáng hôm sau tổng thống Thiệu đưa cho
Kissinger tài liệu đó. Nội dung cho thấy các đơn vị cộng sản sẽ chuẩn bị thực
hiện chiến dịch “Chiếm Ðất Giành Dân”, bắt đầu vào ngày 22 tháng 10, 1972 (chú
thích của tác giả)
(14) Sách của Marvin Kalb và Bernard Kalb ghi 26 điểm cần được thay đổi (sách đã
dẫn, trang 368), sách của Larry Berman ghi là 64 điểm (sách đã dẫn, trang 164 -
165) (chú thích của dịch giả)
(15) Trong năm 1972, Hoa Kỳ viện trợ cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa hai lần
trong kế hoạch mang tên ENHANCE và ENHANCE PLUS. Kế hoạch ENHANCE bắt đầu vào
tháng 5, 1972 sau khi cộng sản tấn công trận “Mùa Hè Ðỏ Lửa”, kế hoạch ENHANCE
PLUS bắt đầu vào tháng 10, 1972. Chương trình quân viện sau cùng này vừa thay
thế số chiến cụ bị mất trong trận vừa qua, vừa tiếp viện để lấy lòng Việt Nam
Cộng Hòa trước khi hiệp định Ba Lê có hiệu lực. Từ ngày 23 tháng 10 cho đến 12
tháng 12, 1972, Hoa Kỳ đưa sang năm ngàn tấn vũ khí. Xem Jeffrey J. Clarke,
Advice and Support: The Final Years, trang 452 - 453 (chú thích của dịch giả)
(16) Theo Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 393, 400 (chú thích
của tác giả)
(17) Kalb và Kalb, sách đã dẫn, trang 410 - 411 (chú thích của tác giả)
(18) Thông thường, các hiệp định đình chiến đòi hỏi hai phe tham chiến tập trung
vào hai vùng riêng biệt, ngăn cách bởi một khu phi quân sự hay một ranh giới rõ
rệt. Khuyết điểm quan trọng nhất của hiệp định Ba Lê đã đưa đến hậu quả tai hại
sau này là việc không đề cập đến, và không bắt buộc quân đội Bắc Việt rút ra
khỏi lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy hiệp định Ba Lê có thể so sánh như một
sợi dây thòng lọng Việt Nam Cộng Hòa phải mang vào cổ, chờ ngày bị siết chặt cho
đến chết. Dựa theo một số tài liệu được giải mật gần đây, tác giả Larry Berman,
trong No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and the Betrayal in Vietnam, đã viết
rất rõ về thực chất và ý nghĩa của hiệp định Ba Lê. Theo tác giả Berman, vào
ngày kỷ niệm năm thứ 25 ngày ký hiệp định Ba Lê, Kissinger tuyên bố là, không có
một pháp lý nào ràng buộc lời hứa của Nixon đối với Việt Nam Cộng Hòa trong hiệp
định. Tác giả Kenneth B. Young (qua bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Vạn Hùng) viết
về sự nhận xét của đại sứ Ellsworth Bunker đối với Kissinger: “Sự hiểu biết của
ông ta [Kissinger] về Việt Nam bị ảnh hưởng bởi một số chánh khách Pháp, nên ông
ta coi thường người Việt quốc gia và có nhiều cảm tình với cộng sản. Do đó
Kissinger đã nhượng bộ nhiều trong cuộc mật đàm với Bắc Việt (chú thích của tác
giả)
(19) Không biết đó là một dự tính hay một trùng hợp, sau khi Việt Nam Cộng Hòa
thực hiện được một số kế hoạch trong 90 ngày (X Plus 90) sau khi ký hiệp định,
đại sứ Ellsworth Bunker kết thúc vai trò đại sứ của ông ở Sài Gòn. Trong tờ
tường trình thứ 69 cho tổng thống, ông ghi lại nhiều chi tiết về những cố gắng
của Việt Nam Cộng Hòa trong gần sáu tháng của năm 1973. Xem tường trình cuối
cùng của Bunker cho tổng thống Nixon (Bunker bắt đầu viết từ 3 tháng 5, 1967 cho
đến ngày cuối là 5 tháng 5, 1973, qua hai thời tổng thống Johnson và Nixon)
trong The Bunker Papers (University of California, Berkeley: 1990) trang 852.
(Chú thích của dịch giả).
|